Những lưu ý trong thực hiện uỷ thác thi hành án dân sự

Ủy thác thi hành án dân sự có vai trò rất quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự góp phần bảo đảm thi hành kịp thời, đầy đủ nội dung phần quyết định của bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự, bảo đảm thực thi quyền, nghĩa vụ của các đương sự trong thi hành án dân sự, mặt khác giúp cho cơ quan thi hành án dân sự giải quyết việc thi hành án dân sự, giảm thiểu việc thi hành án tồn đọng. Việc ủy thác thi hành án dân sự nhìn chung đã được cơ quan thi hành án dân sự thực hiện đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên thực tiễn cho thấy có lúc, có nơi còn lúng túng, thực hiện chưa đúng dẫn đến sai sót, vi phạm về thủ tục ủy thác thi hành án dân sự. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực hiện ủy thác thi hành án dân sự chưa đúng là do nhận thức chưa đầy đủ, chưa chính xác quy định về ủy thác thi hành án dân sự.

Vấn đề chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án dân sự khi người được thi hành án bị thiệt hại và được Nhà nước bồi thường

Thời gian qua, trong một số vụ việc bồi thường nhà nước (BTNN) phát sinh trường hợp người được bồi thường đồng thời là người được thi hành án trong Bản án giải quyết tranh chấp dân sự của Tòa án trước đó mà quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự (THADS) có sai phạm dẫn đến việc người được thi hành án không nhận được tiền, tài sản theo Bản án giải quyết tranh chấp dân sự của Tòa án. Số tiền Nhà nước bồi thường trong những vụ việc này theo Bản án của Tòa án hoặc Quyết định giải quyết bồi thường của cơ quan THADS thực chất là số tiền, tài sản người được thi hành án chưa được nhận theo Bản án giải quyết tranh chấp dân sự của Tòa án trước đó. 

Một số trao đổi về công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự

Bồi thường nhà nước (BTNN) là việc Nhà nước chịu trách nhiệm bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần do lỗi của người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án.

Một số lưu ý trong việc thực hiện thông báo về thi hành án dân sự

Thông báo về thi hành án dân sự là một hình thức chuyển tải nội dung thông tin nhất định đến đối tượng được thông tin, nhằm làm cho đối tượng được nhận thông tin biết được thông tin để thực hiện những hành vi nhất định liên quan đến việc thi hành án. Chấp hành viên chịu trách nhiệm chính trong việc thông báo về thi hành án. Thư ký, Chuyên viên và công chức khác được giao giúp việc cho Chấp hành viên có trách nhiệm thực hiện. Đây là thủ tục hay xảy ra sai sót đối với Chấp hành viên, vì vậy cần đặc biệt lưu ý thực hiện đúng quy định, với những nội dung quan trọng sau đây:

Liệu có rủi ro khi nhận chuyển nhượng tài sản người phải thi hành án đang thế chấp cho ngân hàng ?

Theo quy định của Bộ luật dân sự thì trường hợp khi đến hạn thực hiện nghĩa được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì tài sản bảo đảm được xử lý. Một trong các phương thực thức xử lý là bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm thỏa thuận để bên bảo đảm tự bán tài sản. Tuy nhiên, trên thực tế khi bên bảo đảm tự xử lý tài sản các tổ chức tín dụng, ngân hàng (bên nhận bảo đảm) chỉ quan tâm đến việc thu hồi khoản nợ mà thiếu sự hỗ trợ về mặt pháp lý cho người mua tài sản thế chấp dẫn đến rủi ro cho cá nhân, tổ chức khi thực hiện việc giải chấp tài sản người phải thi hành án đang thế chấp tại các tổ chức tín dụng.

Miễn, giảm khoản tiền lãi chậm thi hành án thực hiện thế nào cho đúng?

Miễn, giảm thi hành án là một quy định nhằm xem xét, xóa bỏ hoặc giảm bớt một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước đối với người phải thi hành án khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Việc được xem xét miễn, giảm một mặt là quyền của người phải thi hành án, mặt khác là trách nhiệm của các cơ quan chức năng, trong đó bao gồm cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Tòa án nhân dân.Trong thực tiễn rà soát, xây dựng hồ sơ miễn, giảm thi hành án trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành nhận thấy còn có những cách hiểu không thống nhất, dễ dẫn đến bỏ sót những trường hợp lẽ ra có đủ điều kiện, điều này gây ảnh hưởng đến chính sách của Nhà nước không được thực hiện một cách triệt để cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến người phải thi hành án.

Bất cập về cưỡng chế giao, trả giấy tờ trong thi hành án dân sự

Cưỡng chế giao, trả giấy tờ trong Luật Thi hành án dân sự hiện nay được quy định tại Điều 44a, Điều 106 và Điều 116. Có thể thấy rằng các Điều luật này đã dự liệu và có sự phân hóa về phương án xử lý trong trường hợp giấy tờ không thể thu hồi được nhưng có thể cấp lại cũng như trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc cấp lại giấy tờ, trường hợp giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại.

Bàn về việc kê biên, xử lý tài sản chung

Trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án thì pháp luật đã giao cho Chấp hành viên cơ quan Thi hành án dân sự được quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành án. Trong 06 biện pháp cưỡng chế cưỡng chế thi hành án được quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự thì biện pháp “Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ” được Chấp hành viên áp dụng nhiều nhất. 

Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả thi hành án các vụ việc liên quan đến án tham nhũng, kinh tế

Thời gian qua, công tác thi hành án dân sự nói chung và thi hành án các vụ việc liên quan đến án tham nhũng, kinh tế nói riêng luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Nhận thức rõ việc thi hành án để thu hồi tiền, tài sản tham nhũng, tài sản cho Nhà nước trong các vụ án xâm phạm các quy định trong quản lý kinh tế là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, nhằm khắc phục hậu quả do tham nhũng, vi phạm pháp luật gây ra, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, có tác động răn đe, phòng ngừa tội phạm, tăng cường kỷ cương phép nước, củng cố lòng tin của nhân dân, góp phần đắc lực vào công tác đấu tranh chống tham nhũng, Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự đã quan tâm chỉ đạo rất sát sao đối với việc thi hành án các vụ việc loại này, theo đó, đã triển khai nhiều các giải pháp, như: ban hành văn bản chỉ đạo chung hoặc đối với từng vụ việc cụ thể; làm việc trực tiếp với các đơn vị, địa phương; yêu cầu báo cáo tiến độ, kết quả theo định kỳ hàng tháng… qua đó đôn đốc đẩy nhanh tiến độ giải quyết các vụ việc, đồng thời, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các địa phương.

Giải quyết vướng mắc trong việc tổ chức thi hành quyết định giám đốc thẩm

Ngày 25/11/2015, Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 10 đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016 thay cho Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 và Luật số 65/2011/QH12. Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 bao gồm các quy định về những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự và nhiều điểm mới cập nhật. Bộ luật tố tụng dân sự có nhiệm vụ góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Do đó, Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật đặc biệt là Luật tổ chức Tòa án nhân dân và các đạo luật có liên quan. Đồng thời sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 và Luật số 65/2011/QH12 nhằm tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong công tác giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý để Tòa án nhân dân thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.