80 năm một chặng đường
28/05/2026
Sắc lệnh số 13/SL
Ngày 24/01/1946, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 13/SL quy định về tổ chức các tòa án và các ngạch thẩm phán. Đây là văn bản đánh dấu mốc pháp lý sớm đầu tiên về hoạt động thi hành án trong tổ chức tư pháp cơ sở.
Ngày 19/7/1946, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 130/SL về thể thức thi hành mệnh lệnh hoặc bản án. Đây là sắc lệnh chuyên biệt yêu cầu “thể thức thi hành” phải được ghi trên bản sao, trích sao án hoặc mệnh lệnh, thể hiện cam kết của Nhà nước về quy trình thực thi bản án: “Các bản toàn sao hoặc trích sao bản án, hoặc mệnh lệnh do các phòng Lục sự phát cho người đương sự để thi hành các án, hoặc mệnh lệnh của các Tòa án Hộ”.
Ngày 22/5/1950, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 85/SL. Theo đó, nhiều vụ việc được định hướng giải quyết bằng hòa giải, thuyết phục và tự thỏa thuận; đồng thời, sức mạnh nhà nước cũng được áp dụng một cách nghiêm minh đối với các trường hợp cần thiết.
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 đã chính thức chuyên trách hóa đội ngũ nhân viên chấp hành án tại Điều 24: “Tại các Tòa án nhân dân địa phương có nhân viên chấp hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định về dân sự, những khoản xử về bồi thường và tài sản trong các bản án và quyết định về hình sự”. Từ đây, nghề thi hành án đã được định danh rõ ràng, có cán bộ chuyên trách và không còn là việc kiêm nhiệm của thẩm phán.
Ngày 14/11/1974, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định thành lập Phòng Chỉ đạo thi hành án nhằm tập trung, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án và quản lý công việc của các Chấp hành viên. Đây là một dấu mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của ngành Thi hành án dân sự Việt Nam.
Ngày 28/8/1989, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989 (số 23-LCT/HĐNN8). Đây là văn bản pháp lý đặt cơ sở vững chắc cho công tác thi hành án dân sự tại Việt Nam khi thiết lập hệ thống quy định cơ bản về thẩm quyền, thủ tục và các biện pháp thi hành. Điều 4 Pháp lệnh ghi nhận: “Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Chánh án Tòa án nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hành án, ra quyết định thi hành”. Điều 5 khẳng định: “Khi bản án, quyết định của tòa án được đưa ra thi hành thì người phải thi hành án có nghĩa vụ tự nguyện thi hành; nếu không tự nguyện thi hành thì chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành”. Từ Điều 10 đến Điều 12 cũng định nghĩa rõ ràng về chức danh Chấp hành viên, nhiệm vụ, quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm và các chế độ đãi ngộ. Chấp hành viên bắt đầu được cấp trang phục, phù hiệu và thẻ riêng khi làm nhiệm vụ.
Ngày 17/4/1993, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 được ban hành. Công tác thi hành án dân sự chính thức được chuyển giao sang cơ quan thuộc Chính phủ quản lý (Bộ Tư pháp), đánh dấu sự tách biệt lịch sử giữa cơ quan xét xử (Tòa án) và cơ quan thi hành án. Hoạt động thi hành án từ đây được chuyên nghiệp hóa rõ rệt với hệ thống quản lý nhà nước thông suốt:
. Cơ quan quản lý: Gồm cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, thuộc Bộ Quốc phòng và các cơ quan quản lý tại địa phương.
. Cơ quan thi hành trực tiếp: Gồm cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện và các cơ quan thi hành án trong quân đội.
Ngày 14/01/2004, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 được ban hành, đánh dấu bước tiến lớn trong việc hoàn thiện thủ tục, tăng cường tính cưỡng chế và nâng cao trách nhiệm của các bên. Pháp lệnh vừa tăng cường áp dụng sức mạnh nhà nước, vừa đề cao tính tự nguyện, tự thỏa thuận thông qua các điểm mới: Quy định rõ việc cưỡng chế người có điều kiện nhưng cố tình không thi hành; xác định chi tiết phạm vi áp dụng đối với các loại bản án dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình; và quy định trách nhiệm giải thích quyền, nghĩa vụ thi hành án của Tòa án cho các đương sự. Đây cũng là cơ sở để Chính phủ ban hành Nghị định 173/2004/NĐ-CP quy định cụ thể về thủ tục cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính.
Ngày 14/11/2008, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 ra đời thay thế cho Pháp lệnh năm 2004, trở thành văn bản pháp lý quan trọng, tạo hành lang vững chắc bảo vệ quyền lợi đương sự. Luật mang lại nhiều cải cách đột phá:
. Đề cao vai trò Chấp hành viên: Quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm trong xác minh, kê biên, xử lý tài sản và ra quyết định cưỡng chế.
. Chặt chẽ về quy trình: Xác định rõ thời hiệu yêu cầu thi hành án và chuẩn hóa từng bước thủ tục.
. Đa dạng biện pháp: Quy định nhiều hình thức cưỡng chế linh hoạt (khấu trừ tiền, thu hồi tài sản, kê biên...).
. Tôn trọng quyền đương sự: Khuyến khích các bên tự thỏa thuận để giảm tải án tồn đọng, đồng thời bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo chính đáng.
Ngày 09/09/2009, Chính phủ ban hành Nghị định số 74/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự. Nghị định quyết định thành lập Tổng cục Thi hành án dân sự trực thuộc Bộ Tư pháp, hoàn thiện hệ thống tổ chức ngành dọc tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương: Tổng cục ở Trung ương, Cục ở cấp tỉnh và Chi cục ở cấp huyện.
Ngày 05/03/2013, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định lấy ngày 19/7 hằng năm làm Ngày truyền thống ngành Thi hành án dân sự. Đây là niềm vinh dự, tự hào lớn lao, đồng thời là lời nhắc nhở cán bộ, công chức toàn ngành luôn giữ vững kỷ cương, kỷ luật và đạo đức công vụ.
Ngày 01/7/2025, hòa cùng "Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc", ngành Thi hành án dân sự thực hiện cuộc cải cách tinh gọn bộ máy, giảm tầng nấc trung gian. Tổng cục Thi hành án dân sự được chuyển đổi thành Cục Quản lý Thi hành án dân sự; hệ thống thi hành án địa phương cũng chuyển dịch từ hai cấp thành một cấp: Thi hành án dân sự tỉnh với các Phòng chuyên môn và các Phòng Thi hành án dân sự Khu vực.

Sơ đồ mô hình tổ chức ngành thi hành án dân sự
Ngày 05/12/2025, Luật Thi hành án dân sự năm 2025 chính thức được ban hành và có hiệu lực chung từ ngày 01/7/2026. Một số điều khoản liên quan đến môi trường số được cho phép có hiệu lực sớm từ ngày 20/01/2026 nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc công nhận giá trị của thủ tục điện tử, kết nối, chia sẻ dữ liệu và nâng cao trách nhiệm phối hợp. Luật cũng cải cách mạnh mẽ trình tự, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ và tối ưu hóa quyền tự thỏa thuận của các bên.
Ngày 20/01/2026, Nền tảng số trong công tác thi hành án dân sự chính thức vận hành trên toàn quốc, đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ: Hồ sơ không chỉ nằm trên giấy mà "sống" trong dữ liệu số. Quy trình thi hành án được triển khai trên không gian mạng, tiến độ được đo lường tự động bằng hệ thống và mọi trách nhiệm công vụ đều được ghi vết minh bạch bằng nhật ký điện tử.
Trải qua hành trình 80 năm xây dựng và phát triển (1946 – 2026), công tác thi hành án dân sự luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động tư pháp và đời sống kinh tế – xã hội của đất nước. Các bản án, quyết định của Tòa án thực sự có giá trị khi được tổ chức thi hành trên thực tế. Ngành Thi hành án dân sự đã và đang đưa công lý từ phán quyết đi vào cuộc sống, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, từ đó củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào nền tư pháp.
Từ những nền móng đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám, hệ thống thi hành án dân sự đã vượt qua nhiều cột mốc lịch sử để lớn mạnh, chuyên nghiệp và chính quy hơn. Đặc biệt, bước chuyển giao lịch sử năm 1993 từ Tòa án nhân dân sang cơ quan thuộc Chính phủ quản lý đã tạo tiền đề cốt lõi để xây dựng hệ thống ngành dọc tập trung, thống nhất như ngày nay.
Bước vào giai đoạn mới, với Luật Thi hành án dân sự năm 2025 cùng bộ máy tổ chức được kiện toàn, vị thế và vai trò của hệ thống Thi hành án dân sự ngày càng được khẳng định. Tự hào nối tiếp truyền thống vẻ vang 80 năm qua, toàn thể cán bộ, công chức, người lao động ngành Thi hành án dân sự vững vàng bước tiếp trên chặng đường mới – chặng đường dẫu nhiều thử thách nhưng đầy vinh quang và tự hào.
Thu Hiền