Một số hành vi vi phạm sẽ bị xem xét, xử lý kỷ luật trong công tác kê khai tài sản, thu nhập theo luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định số 164/2026/NĐ-CP
31/07/2026
Công tác kê khai tài sản, thu nhập là một trong những giải pháp quan trọng nhằm phòng ngừa tham nhũng, nâng cao tính minh bạch trong hoạt động công vụ và tăng cường trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Trong những năm gần đây, cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng, các quy định liên quan đến kiểm soát tài sản, thu nhập ngày càng được siết chặt, đặc biệt là trách nhiệm của người có nghĩa vụ kê khai.
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và các quy định sửa đổi, bổ sung đến năm 2025 tiếp tục khẳng định yêu cầu bắt buộc đối với việc kê khai trung thực, đầy đủ tài sản, thu nhập. Đồng thời, Nghị định số 164/2026/NĐ-CP của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập đã quy định cụ thể nhiều hành vi vi phạm có thể bị xem xét xử lý kỷ luật.
Theo Điều 33 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, người có nghĩa vụ kê khai phải “kê khai trung thực về tài sản, thu nhập, giải trình trung thực về nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm” và “chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kê khai tài sản, thu nhập”. Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong công tác kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức hiện nay.
Kê khai không đầy đủ, không đúng thời hạn có thể bị xử lý
Một trong những hành vi phổ biến dễ dẫn đến xem xét kỷ luật là việc không thực hiện kê khai đúng thời hạn hoặc kê khai không đầy đủ theo quy định. Điều 37 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định người có nghĩa vụ kê khai phải thực hiện kê khai theo mẫu và gửi bản kê khai cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý. Đồng thời, cơ quan quản lý có trách nhiệm lập danh sách, hướng dẫn và theo dõi việc kê khai tài sản, thu nhập.
Nghị định số 164/2026/NĐ-CP đã cụ thể hóa trách nhiệm này bằng các chế tài xử lý. Theo quy định tại Điều 36 của Nghị định, trường hợp người kê khai không nộp bản kê khai dù đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc bằng văn bản lần thứ hai, Quy định này cho thấy việc chậm trễ hay cố tình né tránh nghĩa vụ kê khai không còn bị xem là vi phạm mang tính hình thức mà đã trở thành hành vi có thể dẫn tới xử lý trách nhiệm cụ thể. Trong bối cảnh chuyển đổi số và xây dựng nền hành chính minh bạch, yêu cầu tuân thủ đúng thời hạn kê khai là nghĩa vụ bắt buộc đối với cán bộ, công chức, viên chức.
Kê khai không trung thực là hành vi vi phạm nghiêm trọng
Nếu như việc chậm kê khai có thể bị xem xét ở mức khiển trách thì hành vi kê khai không trung thực được xác định là vi phạm nghiêm trọng hơn rất nhiều. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, người kê khai phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của bản kê khai và phải giải trình được nguồn gốc tài sản tăng thêm. Nghị định 164/2026/NĐ-CP tiếp tục nhấn mạnh nguyên tắc xử lý nghiêm minh đối với các hành vi kê khai gian dối, che giấu tài sản hoặc không giải trình hợp lý về biến động tài sản, thu nhập. Theo đó, người kê khai không nộp bản kê khai đúng hạn sau khi đã bị xem xét xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách; Người kê khai không trung thực đối với tài sản, thu nhập phải kê khai có tổng giá trị đến 10 tỷ đồng hoặc người kê khai giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực đối với tài sản, thu nhập có tổng giá trị từ 150 triệu đồng đến 10 tỷ đồng thì có thể bị áp dụng hình thức kỷ luật khiển trách; kê khai không trung thực đối với tài sản, thu nhập phải kê khai có tổng giá trị từ trên 10 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng hoặc người kê khai giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực đối với tài sản, thu nhập có tổng giá trị từ trên 10 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng thì có thể xem xét, xử lýt kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo. Đối với các hành vi như kê khai không trung thực đối với tài sản, thu nhập phải kê khai có tổng giá trị trên 20 tỷ đồng hoặc Giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực đối với tài sản, thu nhập có tổng giá trị trên 20 tỷ đồng đối với người có chức vụ thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức.
Tại khoản 1, 2 Điều 51 Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018 cũng đã quy định: Đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử. Người được dự kiến bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử giữ chức vụ mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì không được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử vào chức vụ đã dự kiến.
Trên thực tế, hành vi kê khai không trung thực có thể biểu hiện dưới nhiều dạng như: Không kê khai tài sản thuộc diện phải kê khai, cố ý khai thiếu tài sản có giá trị lớn, che giấu tài sản đứng tên vợ, chồng hoặc con chưa thành niên, không kê khai tài khoản ở nước ngoài hay giải trình không hợp lý về tài sản tăng thêm. Điều đáng chú ý là pháp luật hiện hành không chỉ xem xét hậu quả mà còn đánh giá cả động cơ, tính chất và mức độ vi phạm để quyết định hình thức xử lý kỷ luật phù hợp. Trong nhiều trường hợp, nếu việc kê khai không trung thực nhằm che giấu hành vi tham nhũng hoặc nguồn tài sản bất minh thì ngoài xử lý kỷ luật còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Không giải trình được nguồn gốc tài sản tăng thêm
Một nội dung quan trọng của cơ chế kiểm soát tài sản hiện nay là yêu cầu giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm. Theo Điều 47 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, người được xác minh tài sản, thu nhập có nghĩa vụ giải trình về tính trung thực, đầy đủ của bản kê khai cũng như nguồn gốc của tài sản tăng thêm; đồng thời phải cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu của tổ xác minh. Như vậy, việc kê khai chỉ là bước đầu, còn trách nhiệm chứng minh tính hợp pháp của tài sản mới là yếu tố quan trọng để đánh giá tính minh bạch của cán bộ, công chức. Trong trường hợp cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập phát hiện tài sản tăng thêm bất thường mà người kê khai không giải trình hợp lý, không cung cấp được tài liệu chứng minh hoặc giải trình thiếu logic thì có thể bị xem xét xử lý kỷ luật theo quy định. Quy định này góp phần hạn chế tình trạng “hợp thức hóa tài sản”, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc xác minh tài sản có dấu hiệu bất minh.
Cố tình che giấu tài sản của vợ, chồng, con chưa thành niên
Một số trường hợp vi phạm thường phát sinh từ việc người kê khai chỉ tập trung kê khai tài sản đứng tên cá nhân mà bỏ sót hoặc cố tình che giấu tài sản thuộc sở hữu của vợ, chồng hoặc con chưa thành niên. Theo Điều 33 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, nghĩa vụ kê khai không chỉ áp dụng với tài sản của cá nhân người kê khai mà còn bao gồm tài sản, thu nhập của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên. Bên cạnh đó, Nghị định 164/2026/NĐ-CP đã quy định khá cụ thể các loại tài sản phải kê khai như quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng, vàng, kim khí quý, tiền gửi, tài khoản trong và ngoài nước… khi đạt ngưỡng giá trị theo quy định. Do đó, việc cố tình “lách luật” bằng cách chuyển tài sản sang tên người thân hoặc cố ý không kê khai tài sản của gia đình có thể bị xem là hành vi kê khai không trung thực và bị xử lý nghiêm.
Cản trở hoạt động xác minh tài sản, thu nhập
Ngoài hành vi kê khai sai, pháp luật cũng quy định xử lý đối với hành vi không hợp tác trong quá trình xác minh tài sản, thu nhập. Điều 47 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 nêu rõ người được xác minh phải “thực hiện đầy đủ, kịp thời yêu cầu của Tổ xác minh tài sản, thu nhập”. Vì vậy, các hành vi như: Không cung cấp hồ sơ theo yêu cầu, cung cấp thông tin sai lệch, trì hoãn việc giải trình, gây khó khăn cho cơ quan xác minh hoặc có tác động nhằm làm sai lệch kết quả xác minh đều có thể trở thành căn cứ xem xét trách nhiệm kỷ luật. Đây là điểm rất quan trọng nhằm bảo đảm hiệu quả thực chất của công tác kiểm soát tài sản, tránh tình trạng kê khai chỉ mang tính hình thức.
Xử lý vi phạm trong công tác kiểm soát tài sản, thu nhập
Tại Điều 37 của Nghị định số 164/2026/NĐ-CP quy định: Đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không tổ chức việc kê khai, công khai bản kê khai, nộp bản kê khai khi đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc bằng văn bản lần 2; người đứng đầu Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập cố ý không tổ chức tiếp nhận, quản lý bản kê khai hoặc thành viên Tổ xác minh tài sản, thu nhập cố ý lợi dụng việc xác minh tài sản, thu nhập thực hiện hành vi trái pháp luật thì có thẻ bị xem xét xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách.
Các hành vi như cố ý không kết luận xác minh tài sản, thu nhập làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được xác minh hoặc cố ý bao che cho người được xác minh tài sản, thu nhập thì có thể bị xem xét xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo.
Ngoài ra các hành vi trên nếu vi phạm quy định về các hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại Điều 18 Nghị định 164/2026/NĐ-CP nếu cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Công khai bản kê khai nhưng không bảo đảm tính minh bạch
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng quy định việc kê khai tài sản phải được công khai theo hình thức phù hợp để phục vụ hoạt động giám sát. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có trường hợp công khai mang tính đối phó, không đúng trình tự hoặc không tạo điều kiện cho việc giám sát của tập thể, cơ quan, đơn vị. Nếu người đứng đầu hoặc bộ phận tham mưu cố tình không thực hiện đúng quy trình công khai, che giấu thông tin hoặc làm sai lệch hồ sơ kê khai thì tùy mức độ cũng có thể bị xem xét trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Tăng cường trách nhiệm nêu gương và tính tự giác
Có thể thấy rằng hệ thống pháp luật hiện hành đang từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập theo hướng chặt chẽ và thực chất hơn. Từ việc kê khai, công khai, xác minh đến xử lý vi phạm đều được quy định khá cụ thể. Nghị định số 164/2026/NĐ-CP không chỉ bổ sung cơ chế quản lý dữ liệu, xác minh tài sản mà còn tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho việc xử lý các hành vi vi phạm trong công tác kê khai tài sản, thu nhập.
Trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, xây dựng đội ngũ cán bộ “liêm chính, trách nhiệm, minh bạch”, việc kê khai tài sản không còn là thủ tục hành chính đơn thuần mà đã trở thành thước đo về ý thức chấp hành pháp luật, đạo đức công vụ và trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên. Mỗi cá nhân có nghĩa vụ kê khai cần nhận thức rõ rằng việc kê khai trung thực không chỉ nhằm bảo vệ uy tín của bản thân mà còn góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với bộ máy nhà nước.
Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức cũng cần tăng cường hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc kê khai tài sản, thu nhập; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay.
Lê Văn Trí - Ban Tổ chức cán bộ