Một số điểm mới cơ bản của Nghị định số 152/2026/NĐ-CP ngày 13/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự.
16/05/2026
Ngày 05/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Đây là dấu mốc quan trọng của toàn hệ thống THADS nhằm thể chế hóa, triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, tháo gỡ những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc sau 17 năm thi hành Luật THADS hiện hành.
Luật THADS năm 2025 giao Chính phủ quy định chi tiết 37 nội dung. Trên cơ sở đó, ngày 31 tháng 12 năm 2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2835/QĐ-TTg về Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10, trong đó đã phân công Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật THADS năm 2025 (sau đây gọi là Nghị định), thời hạn trình Chính phủ là tháng 4/2026.
Theo Quyết định số 2835/QĐ-TTg nêu trên, Nghị định này quy định chi tiết 28 nội dung của Luật THADS năm 2025 tại các điều, khoản sau: khoản 3 Điều 22, Điều 34, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 49, khoản 3 Điều 49, Điều 50, Điều 51, khoản 9 Điều 53, khoản 6 Điều 54, khoản 7 Điều 54, khoản 3 Điều 55, khoản 2 Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 61, khoản 2 Điều 67, khoản 3 Điều 70, khoản 5 Điều 72, khoản 5 Điều 76, Điều 78, điểm c khoản 2 Điều 82, Điều 84, khoản 2 Điều 85, điểm b khoản 1 Điều 86, khoản 1 Điều 87, khoản 2 Điều 89, khoản 6 Điều 95; nội dung về chi phí, kinh phí trong hoạt động thi hành án quy định tại Điều 9. Bên cạnh 28 điều, khoản được Luật THADS năm 2025 giao quy định chi tiết, thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định còn có nhiệm vụ quy định những biện pháp cần thiết để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật.
Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 152/2026/NĐ-CP ngày 13/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự, Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.
Nghị định gồm 05 chương, 116 điều, cụ thể như sau: Chương I. Quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 6); Chương II. Thủ tục THADS (từ Điều 7 đến Điều 77); Chương III. Quản lý, sử dụng kinh phí trong THADS và bảo đảm tài chính để thi hành án (từ Điều 78 đến Điều 96); Chương IV. Quản lý nhà nước về THADS và nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong THADS (từ Điều 97 đến Điều 112); Chương V. Điều khoản thi hành (từ Điều 113 đến Điều 116).
Nghị định tiếp tục thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác THADS; kế thừa các quy định hiện hành về thành phần hồ sơ, trình tự, thủ tục, chi phí trong THADS, quản lý nhà nước về THADS... đã được thực hiện hiệu quả trên thực tế; Bổ sung các quy định cần thiết để hoàn thiện cơ sở pháp lý về THADS theo hướng đầy đủ, chặt chẽ, công khai, minh bạch, khách quan, thuận lợi cho việc chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả hoạt động THADS; Tăng cường trách nhiệm của Chấp hành viên, cơ quan THADS, cơ quan quản lý nhà nước về THADS, đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, với các nội dung cơ bản sau đây:
1. Về hồ sơ, trình tự, thủ tục thi hành án
Thực hiện chủ trương về đổi mới tư duy lập pháp, Luật THADS năm 2025 giao Chính phủ quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục THADS, các vấn đề thực tiễn sẽ biến động thuộc thẩm quyền quy định của Chính phủ. Đồng thời, tiếp tục thực hiện yêu cầu về “rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí” theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Ban Chấp hành Trung ương, yêu cầu về chuyển đổi số mạnh mẽ hoạt động THADS theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị, Nghị định sửa đổi, hoàn thiện các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục thi hành án, cụ thể như sau:
1.1. Về thủ tục chung
Căn cứ các nội dung được giao quy định chi tiết và những nội dung được xác định cần hướng dẫn thi hành của Luật THADS, Nghị định đã sửa đổi, hoàn thiện những nội dung về thủ tục chung. Trong đó, một số nội dung sửa đổi, hoàn thiện quan trọng như sau:
Thứ nhất, về giao nhận bản án, quyết định; yêu cầu và ra quyết định thi hành án (từ Điều 7 - Điều 11):
Nghị định quy định về các hình thức giao nhận bản án, quyết định; hình thức yêu cầu thi hành án linh hoạt, thuận lợi để người dân lựa chọn, trong đó có hình thức thực hiện trên môi trường số, thông qua các phương tiện điện tử.
Về việc ra quyết định thi hành án, hiện nay, Điều 6 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định: “Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án chung đối với các khoản thuộc diện chủ động thi hành trong một bản án, quyết định, trừ một số trường hợp” và khoản 1 Điều 7 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định: “Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án cho mỗi yêu cầu thi hành án, trừ một số trường hợp”.
Nhằm bảo đảm thuận lợi và thống nhất trong công tác thông báo thi hành án (nhất là thông báo trên môi trường số, qua VNeID); bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự (bảo mật thông tin cá nhân của đương sự, thuận lợi và hiệu quả khi làm việc với cơ quan THADS...); thuận lợi, thống nhất trong công tác thống kê kết quả thi hành án (việc, tiền), triển khai các nền tảng số, tổ chức, quản lý, chỉ đạo, điều hành và xử lý hồ sơ thi hành án, Nghị định quy định theo hướng: Thủ trưởng cơ quan THADS ra một quyết định thi hành án (kể cả trong trường hợp thi hành án chủ động và thi hành án theo yêu cầu) đối với mỗi người phải thi hành án, trừ một số trường hợp như: thi hành quyền, nghĩa vụ liên đới hoặc trường hợp bản án, quyết định tuyên nhiều người được nhận chung một tài sản, một khoản tiền cụ thể; chia tài sản chung, chia thừa kế, chia tài sản trong ly hôn, tuyên các bên vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ đối với tài sản nhưng chỉ có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án thì ra một quyết định thi hành án theo nội dung bản án, quyết định.
Đồng thời, quy định đối với những trường hợp chỉ cần có một hoặc một số người có yêu cầu thi hành án nhưng ra quyết định thi hành án theo nội dung bản án, quyết định nêu trên thì cơ quan THADS sẽ thực hiện thanh toán, thu phí thi hành án đối với những người được nhận tiền, tài sản. Quy định này trên cơ sở khoản 10 Điều 3 Luật THADS năm 2025 (người được nhận tiền, tài sản phải nộp phí), khoản 1 Điều 53 Luật THADS (đương sự yêu cầu thi hành án phải nộp phí) và hướng dẫn Điều 54 Luật THADS năm 2025.
Thứ hai, về thông báo thi hành án (Điều 15 - Điều 19):
Khoản 3 Điều 35 Luật THADS năm 2025 quy định, “việc thông báo thi hành án được thực hiện theo một trong các hình thức sau: a) Thông báo trên môi trường số hoặc qua văn phòng THADS hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan THADS giao trực tiếp cho người được thông báo; b) Niêm yết công khai; c) Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng”.
Để hướng dẫn thi hành nội dung trên, Nghị định quy định về trình tự, thủ tục để thực hiện thông báo đối với từng hình thức. Theo đó, bên cạnh các hình thức thông báo hiện hành (thông báo trực tiếp, niêm yết công khai, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng) thì Nghị định quy định theo hướng ưu tiên thông báo trên môi trường số, trường hợp không thể thực hiện được việc thông báo trên môi trường số thì sẽ thông báo theo các hình thức khác nhằm tiếp tục thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị; thực hiện yêu cầu về “rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí” theo Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương. Riêng đối với quyết định thi hành án thì thông báo trực tiếp nhằm bảo đảm tốt quyền của các đương sự.
Thứ ba, về việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành (Điều 22):
Thực hiện nhiệm vụ được Luật THADS giao, Nghị định hướng dẫn về xử lý việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành. Theo đó, hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành và đã xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều 38 của Luật THADS mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan THADS chuyển sang sổ theo dõi để thống kê riêng đối với việc thi hành án chủ động và thông báo về việc gửi lại yêu cầu thi hành án đối với việc thi hành án theo yêu cầu. Thông báo về việc gửi lại yêu cầu thi hành án phải gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền. Sau khi cơ quan THADS đã gửi lại yêu cầu thi hành án mà đương sự yêu cầu thi hành án trở lại thì phải cung cấp tài liệu chứng minh người phải thi hành án có điều kiện thi hành. Trường hợp có căn cứ xác định người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan THADS ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định.
Thứ tư, về thanh toán tiền thi hành án (Điều 29, Điều 30):
Tiếp tục thể chế hóa và triển khai thực hiện Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; Quy định số 183-QĐ/TW ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Bộ Chính trị về bảo vệ cơ quan, tổ chức, người thi hành công vụ trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; nhằm bảo đảm cơ quan THADS hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Kết luận số 162-KL/TW ngày 06 tháng 6 năm 2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Nghị định quy định cơ quan THADS mở tài khoản tại ngân hàng thương mại để thực hiện nghiệp vụ thu và chi tiền thi hành án; việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản hoặc thông qua phương tiện thanh toán điện tử khác được pháp luật công nhận; trường hợp người được nhận tiền là cá nhân không cung cấp số tài khoản nhận tiền thì thanh toán trực tiếp tại cơ quan THADS. Trường hợp người được thi hành án là cơ quan, tổ chức thì việc chi trả tiền thi hành án chỉ thực hiện bằng chuyển khoản vào tài khoản của cơ quan, tổ chức đó, trừ trường hợp bản án, quyết định có nội dung khác.
Thứ năm, về xử lý hồ sơ thi hành án trong các trường hợp thi hành nghĩa vụ về hành vi (Điều 32):
Theo quy định tại các Điều 91 và 92 Luật THADS năm 2025, trường hợp thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định, thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định mà phải do chính đương sự thực hiện nhưng họ không thi hành thì Chấp hành viên phối hợp với cơ quan, tổ chức liên quan vận động, thuyết phục, ra quyết định cưỡng chế, ấn định thời hạn để người phải thi hành án thực hiện. Hết thời hạn ấn định mà họ không thực hiện thì Chấp hành viên có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án. Ngoài các thủ tục thi hành án kể trên thì cơ quan THADS không thực hiện các thủ tục nào khác để buộc người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ và việc thực hiện hay không thực hiện bản án cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện, thỏa thuận của các bên đương sự. Thực tiễn công tác thi hành án những năm qua cho thấy, các vụ việc thi hành án trong trường hợp này hầu hết bị tồn đọng, không có hướng xử lý, phát sinh nhiều khiếu nại, tố cáo mặc dù cơ quan THADS đã làm hết trách nhiệm theo quy định.
Do đó, Điều 32 Nghị định quy định: Việc thi hành án kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền đã truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án theo đề nghị của Chấp hành viên quy định tại các Điều 91 và Điều 92 của Luật THADS.
1.2. Việc thi hành án trong một số trường hợp cụ thể
Nghị định quy định thủ tục thi hành án trong một số trường hợp cụ thể như sau:
Thứ nhất, thủ tục thi hành án đối với người đang chấp hành hình phạt tù:
Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật THADS năm 2008, nhằm bảo đảm phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự theo Luật Thi hành án hình sự năm 2025 và chọn lọc, có sửa đổi phù hợp những nội dung đang được thực hiện hiệu quả tại Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC ngày 06/02/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính hướng dẫn trình tự, thủ tục thu, nộp, quản lý tiền, giấy tờ của người phải THADS và trả tiền, giấy tờ cho người được THADS là phạm nhân, Nghị định quy định trình tự, thủ tục thực hiện việc thông báo thi hành án, việc thu tiền, tài sản, giấy tờ; việc trả lại tiền, tài sản, giấy tờ đối với đương sự là người đang chấp hành hình phạt tù.
Thứ hai, về giao nhận, bảo quản, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ và trả lại tiền, tài sản cho đương sự (Điều 37 - Điều 41):
Luật THADS năm 2025 đã sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 1 Điều 90 của Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng: Vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, vật chứng tiếp tục được bảo quản, lưu giữ tại nơi đang bảo quản; cơ quan THADS thực hiện các thủ tục kiểm kê, tiếp nhận, niêm phong vật chứng trong giai đoạn thi hành án và xử lý theo quy định của pháp luật về THADS.
Đồng thời, Luật THADS năm 2025 cũng giao Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có trách nhiệm bảo quản vật chứng, tài sản. Trên cơ sở đó, Nghị định dành 05 Điều quy định về giao nhận vật chứng; trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan trong bảo quản vật chứng; xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước; tiêu hủy vật chứng, tài sản và trả lại tiền, tài sản cho đương sự. Trong đó:
- Về giao nhận vật chứng: quy định cơ quan THADS gửi quyết định thi hành án đối với khoản xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ, kèm theo bản án, quyết định cho cơ quan, tổ chức đang bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ để đối chiếu. Trường hợp vật chứng, tài sản tạm giữ theo bản án, quyết định không đúng với biên bản thu giữ ban đầu thì cơ quan đang bảo quản vật chứng thông báo cho cơ quan THADS để yêu cầu Tòa án giải thích, đính chính hoặc kiến nghị xem xét lại bản án theo quy định tại các điểm d, điểm đ khoản 2 Điều 22 của Luật THADS. Trước khi xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ thì cơ quan THADS thông báo cho cơ quan, tổ chức đang bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ và ấn định thời điểm thực hiện việc bàn giao vật chứng, tài sản tạm giữ cho cơ quan THADS; trường hợp vật chứng là tiền thì chuyển vào tài khoản của cơ quan THADS mở tại Kho bạc nhà nước. Cơ quan THADS có trách nhiệm kiểm kê, tiếp nhận vật chứng, tài sản tạm giữ tại nơi bảo quản vật chứng, tài sản tạm giữ.
- Về thẩm quyền tiếp nhận, xử lý vật chứng, tài sản bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước: Nghị định hướng dẫn Điều 57 Luật THADS năm 2025 về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ mà bản án, quyết định tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước. Theo đó, Nghị định quy định: đối với các bản án, quyết định do cơ quan THADS tỉnh, thành phố tổ chức thi hành thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có vật chứng, tài sản tiếp nhận và xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ; đối với bản án, quyết định do cơ quan thi hành án cấp quân khu tổ chức thi hành thì Sở Tài chính nơi có vật chứng, tài sản tạm giữ tiếp nhận và xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ. Để đồng bộ, thống nhất với quy định trên, Điều 113 Nghị định cũng sửa nội dung tương ứng tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 77/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Chính phủ quy định thẩm quyền, thủ tục xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản và xử lý đối với tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân.
1.3. Áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án
Nghị định quy định thủ tục áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án, trong đó một số nội dung sửa đổi, hoàn thiện như sau:
Thứ nhất, về biện pháp bảo đảm phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ:
Thực hiện nhiệm vụ được Luật THADS giao quy định chi tiết (Điều 67), Nghị định sửa đổi, hoàn thiện nguyên tắc phong tỏa tài khoản. Theo đó, trường hợp tại thời điểm phong tỏa mà số tiền, giá trị tài sản trong tài khoản bằng hoặc lớn hơn nghĩa vụ phải thi hành án và chi phí thi hành án thì phong tỏa số tiền, phần tài sản tương ứng với nghĩa vụ thi hành án và chi phí thi hành án ngay sau khi nhận được quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ. Trường hợp tại thời điểm phong tỏa mà số tiền, giá trị tài sản trong tài khoản nhỏ hơn nghĩa vụ phải thi hành án và chi phí thi hành án hoặc không xác định được giá trị tài sản trong tài khoản thì phong tỏa toàn bộ số tiền, tài sản trong tài khoản ngay sau khi nhận được quyết định phong tỏa tài khoản; trường hợp phát sinh tiền, tài sản trong tài khoản thì phong tỏa tiếp số tiền, tài sản theo quy định tại khoản này.
Thứ hai, về việc phối hợp thực hiện cưỡng chế thi hành án trong trường hợp có huy động lực lượng:
Nhằm bảo đảm cơ quan THADS hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Kết luận số 162-KL/TW ngày 06 tháng 6 năm 2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp; trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những nội dung đang được thực hiện hiệu quả tại Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30 tháng 3 năm 2012 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong THADS, Nghị định quy định việc phối hợp thực hiện cưỡng chế thi hành án trong trường hợp có huy động lực lượng. Theo đó, cơ quan THADS đề nghị cơ quan công an cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế phối hợp bảo vệ cưỡng chế. Trường hợp vụ việc có tính chất phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương hoặc liên quan đến nhiều địa bàn cấp xã thì Thủ trưởng cơ quan công an cấp xã báo cáo cơ quan công an cấp tỉnh để chỉ đạo.
Bên cạnh đó, Nghị định cũng sửa đổi, hoàn thiện các quy định về các biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ; tạm hoãn xuất cảnh; khấu trừ tiền trong tài khoản; trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; thu tiền của người phải thi hành án; cưỡng chế khai thác tài sản, mở khóa, mở gói; kê biên tài sản; thẩm định giá, xác định giá, bán, giao tài sản thi hành án; cưỡng chế chuyển giao tài sản, giấy tờ; đăng ký chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản cho người mua, người nhận tài sản; trả lại tài sản, giấy tờ sau khi chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế.
1.4. Về giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS
Nhằm hướng dẫn thi hành các Điều 105, 106 và 110 Luật THADS năm 2025, Nghị định dành 04 điều (từ Điều 74 đến Điều 77) quy định một số nội dung về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS.
2. Quản lý, sử dụng kinh phí và bảo đảm tài chính để thi hành án
2.1. Về kinh phí bảo đảm hoạt động, chi phí thi hành án
Luật THADS năm 2025 giao Chính phủ quy định chi tiết Điều 9 về bảo đảm hoạt động THADS. Sau khi rà soát, Bộ Tư pháp xác định phạm vi quy định chi tiết tại Nghị định này gồm: nguồn kinh phí bảo đảm hoạt động THADS; chi phí thi hành án do ngân sách nhà nước chịu; chi phí thi hành án do đương sự, chi phí thi hành án do người thứ ba chịu và việc tạm ứng, miễn, giảm chi phí thi hành án. Những nội dung khác về bảo đảm hoạt động THADS theo Điều 9 Luật THADS năm 2025 như: trang phục, phù hiệu, cấp hiệu, thẻ để sử dụng trong khi thi hành công vụ, chế độ tiền lương, chế độ phụ cấp phù hợp với nghề nghiệp và chế độ ưu đãi khác đối với Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án, công chức và người làm công tác thi hành án khác trong hệ thống THADS; điều kiện và cơ chế bảo vệ cho cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS… (cơ bản là những nội dung thuộc Chương III về cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS, Chấp hành viên, người làm công tác THADS tại Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) sẽ thuộc phạm vi quy định của Nghị định về tổ chức cán bộ và điều kiện bảo đảm hoạt động THADS.
Nội dung quy định tại Nghị định bảo đảm phù hợp, thống nhất với Luật Ngân sách nhà nước, Luật THADS năm 2025 và pháp luật khác có liên quan.
2.2. Về bảo đảm tài chính để thi hành án
Điều 51 Luật THADS năm 2025 giao Chính phủ quy định chi tiết thẩm quyền, điều kiện, đối tượng, thủ tục bảo đảm tài chính để thi hành án. Trên cơ sở kế thừa những quy định đang được thực hiện hiệu quả tại các Điều 39, 40, 41 và 42 của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 07/2016/TTLT-BTP-BTC ngày 10/6/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án, Nghị định quy định cụ thể về đối tượng, điều kiện, phạm vi, thẩm quyền, thủ tục, nguồn kinh phí bảo đảm tài chính để thi hành án, việc hoàn trả của người có lỗi...
3. Quy định về quản lý nhà nước về THADS và nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong THADS
3.1. Về quản lý nhà nước về THADS
Luật THADS năm 2025 chỉ dành 01 điều (Điều 10) quy định về quản lý nhà nước về THADS. Nghị định có nhiệm vụ hướng dẫn cụ thể về vấn đề này để bảo đảm cơ sở cho việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về THADS của từng cơ quan. Theo đó, Nghị định lấy lại các quy định còn phù hợp, đang thực hiện hiệu quả của Luật THADS năm 2008 về nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp, các Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan; UBND cấp tỉnh, cấp xã; đồng thời có rà soát, sửa đổi, bổ sung nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước về THADS.
3.2. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong THADS
Nghị định cũng lấy lại các quy định đang thực hiện hiệu quả, có sửa đổi, hoàn thiện về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong hoạt động THADS tại Luật THADS năm 2008, như: Kho bạc Nhà nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng khác; Bảo hiểm xã hội trong THADS; cơ quan đăng ký tài sản… Đồng thời, Nghị định cũng bổ sung quy định về trách nhiệm của Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong công tác thi hành án đối với phạm nhân.
4. Những nội dung bổ sung
Nghị định bổ sung 21 điều để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật THADS năm 2025. Trong đó, nhằm tiếp tục thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị, bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS, Nghị định hướng dẫn bổ sung 03 điều về Cơ sở dữ liệu, môi trường số, nền tảng số về THADS (Điều 4, Điều 5, Điều 6).
Bên cạnh đó, để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật THADS năm 2025, Nghị định bổ sung một số nội dung quy định về thủ tục THADS, trách nhiệm của các cơ quan liên quan như: đại diện trong THADS; thông báo trên môi trường số; gửi, nhận quyết định, văn bản về thi hành án; bù trừ nghĩa vụ thi hành án; giao, nhận vật chứng; thủ tục cưỡng chế, kê biên đối với một số tài sản (như: tài sản hình thành trong tương lai, tài sản là tài nguyên thiên nhiên, chứng khoán…).
Đức Thành - Ban Pháp chế và Nghiệp vụ Thi hành án dân sự