Một số điểm mới trong công tác kê khai tài sản, thu nhập theo Luật Phòng, chống tham nhũng được sửa đổi, bổ sung năm 2025
18/05/2026
Luật năm 2018 quy định toàn diện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng, trong đó nổi bật là cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập. Các nội dung chính gồm: Xác định đối tượng phải kê khai tài sản, thu nhập; Quy định các hình thức kê khai: kê khai lần đầu, kê khai hằng năm và kê khai bổ sung; Thiết lập hệ thống cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập; Quy định ngưỡng tài sản phải kê khai từ 50 triệu đồng trở lên.
Mặc dù mang tính toàn diện, song việc triển khai trên thực tế cho thấy còn tồn tại tình trạng kê khai mang tính hình thức, thiếu hiệu quả trong xác minh. Để khắc phục những tồn tại nêu trên ngày 10 tháng 12 năm 2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng Luật số 132/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2025 có một số nội dung được sửa đổi, bổ sung liên quan đến công tác kê khai tài sản, thu nhập cụ thể như sau:
1. Sửa đổi, bổ sung Điều 30 về cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập như sau:
(1) Ủy ban kiểm tra cấp ủy cấp trên trực tiếp cơ sở trở lên kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập (sau đây gọi là người có nghĩa vụ kê khai) là người thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý và đảng viên chuyên trách công tác đảng hoặc có vị trí việc làm ở các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy theo quy định của Đảng.
(2) Thanh tra Chính phủ kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai là người giữ chức vụ từ Phó Vụ trưởng và tương đương trở lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu công tác tại tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ hoạt động; Chủ tịch Hội đồng quản trị, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Phó Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Trưởng Ban kiểm soát, Kế toán trưởng doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp do các Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
(3) Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
(4) Văn phòng Quốc hội kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai thuộc thẩm quyền quản lý của mình và của các cơ quan của Quốc hội, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
(5) Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Văn phòng Chủ tịch nước kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai thuộc thẩm quyền quản lý của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
(6) Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai thuộc thẩm quyền quản lý của mình và của các tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
(7) Thanh tra tỉnh, thành phố kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thuộc thẩm quyền quản lý của chính quyền địa phương, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
(8) Chính phủ quy định về cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập đối với người có nghĩa vụ kê khai không thuộc các trường hợp được quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này”.
2. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 31 về nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập như sau: “Yêu cầu người có nghĩa vụ kê khai cung cấp, bổ sung thông tin có liên quan, giải trình khi có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc để phục vụ việc xác minh tài sản, thu nhập”.
3. Bổ sung khoản 3 Điều 33 về nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập như sau: “Việc kê khai, giải trình về nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm là một trong những tiêu chí để đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức”.
4. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 34 về người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập như sau: “ Người giữ chức vụ từ Phó Trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, người giữ chức vụ trong doanh nghiệp nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ”.
5. Sửa đổi, bổ sung Điều 35 về tài sản, thu nhập phải kê khai như sau:
1. Tài sản, thu nhập phải kê khai bao gồm: Quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng; Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và tài sản khác mà mỗi loại tài sản có giá trị từ 150.000.000 đồng trở lên; Tài sản, tài khoản ở nước ngoài; Tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai.
2. Chính phủ quy định chi tiết tài sản, thu nhập phải kê khai, mẫu bản kê khai và việc thực hiện kê khai tài sản, thu nhập quy định tại Điều này”. Đối với nội dung này, Thanh tra Chính phủ đang được giao xây dựng Nghị định hướng dẫn thi hành luật và biểu mẫu mới về công tác kê khai tài sản, thu nhập dự kiến trình Chính phủ ban hành trong thời gian tới.
6. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 36 về phương thức và thời điểm kê khai như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau: “ Kê khai bổ sung được thực hiện khi người có nghĩa vụ kê khai có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 1.000.000.000 đồng trở lên. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 của năm có biến động về tài sản, thu nhập, trừ trường hợp đã kê khai theo quy định tại khoản 3 Điều này”.
b) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 như sau: “Người giữ chức vụ từ Phó Vụ trưởng và tương đương trở lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; Giám đốc sở và tương đương trở lên công tác tại chính quyền địa phương. Người thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý và đảng viên chuyên trách công tác đảng hoặc có vị trí việc làm ở các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy thực hiện việc kê khai hằng năm theo quy định của Đảng và quy định của pháp luật. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12”.
7. Sửa đổi, bổ sung Điều 40 về theo dõi biến động về tài sản, thu nhập như sau: Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập theo dõi biến động về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai thông qua phân tích, đánh giá thông tin từ bản kê khai hoặc từ các nguồn thông tin khác. Trường hợp phát hiện có biến động tài sản, thu nhập trong năm từ 1.000.000.000 đồng trở lên mà người có nghĩa vụ kê khai không kê khai thì cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập yêu cầu người đó cung cấp, bổ sung thông tin có liên quan; trường hợp tài sản, thu nhập có biến động tăng thì phải giải trình về nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm”.
8. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 41 về căn cứ xác minh tài sản, thu nhập như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 như sau: “Có biến động tăng về tài sản, thu nhập trong năm từ 1.000.000.000 đồng trở lên mà người có nghĩa vụ kê khai giải trình không hợp lý về nguồn gốc”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau: “Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí lựa chọn người có nghĩa vụ kê khai được xác minh và việc xây dựng, phê duyệt, thực hiện kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập hằng năm của Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập quy định tại điểm d khoản 1 Điều này”.
9. Sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 1 Điều 42 về thẩm quyền xác minh tài sản, thu nhập như sau: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh yêu cầu xác minh đối với người dự kiến được bầu hoặc đề nghị phê chuẩn chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã”.
10. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 43 về nội dung xác minh tài sản, thu nhập như sau: “Tính trung thực trong việc giải trình về biến động tài sản, thu nhập và nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm”.
11. Sửa đổi, bổ sung Điều 44 về trình tự xác minh tài sản, thu nhập như sau:
1. Việc xác minh tài sản, thu nhập được thực hiện theo trình tự, thủ tục sau: Ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập và thành lập Tổ xác minh tài sản, thu nhập; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai; Yêu cầu người được xác minh giải trình về tài sản, thu nhập của mình; Tiến hành xác minh tài sản, thu nhập; Báo cáo kết quả xác minh tài sản, thu nhập; Kết luận xác minh tài sản, thu nhập; Gửi và công khai Kết luận xác minh tài sản, thu nhập.
2. Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục xác minh tài sản, thu nhập thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 41 của Luật này”.
12. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 51 về xử lý hành vi kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhạp tăng thêm không trung thực cụ thể như sau: “Người có nghĩa vụ kê khai không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, pháp luật về viên chức và pháp luật khác có liên quan; trường hợp là đảng viên thì còn bị xử lý theo quy định của Đảng”.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2025 đã kế thừa và phát triển Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 theo hướng tinh gọn, hiệu quả và hiện đại hơn. Cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập và nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập ngày càng minh bạch cho thấy sự chuyển biến rõ rệt trong tư duy lập pháp, từ quản lý hình thức sang kiểm soát thực chất. Đây là bước tiến quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của Việt Nam trong giai đoạn mới.
Lê Trí – Ban Tổ chức cán bộ