Những điểm mới về quy trình xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự theo Thông tư số 06/2026/TT-BTP ngày 16/5/2026 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp
02/07/2026
Ngày 16/5/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 06/2026/TT-BTP hướng dẫn giao nhận, bảo quản, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ; thủ tục quản lý hành chính, biểu mẫu và quy trình xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong THADS.
Trong đó, các quy định về quy trình xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong THADS kế thừa những nội dung cơ bản của Thông tư số 13/2021/TT-BTP ngày 30/12/2021, đồng thời có một số quy định mới để phù hợp, thống nhất với Luật Thi hành án dân sự năm 2025, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành khác, cụ thể như sau:
1. Về quy định chung
(i) Quy định về phạm vi điều chỉnh quy trình xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong THADS:
Trước đây, Thông tư số 13/2021/TT-BTP chủ yếu quy định về trình tự, thủ tục tiếp nhận, xử lý và giải quyết đơn trong THADS mà chưa xác định rành mạch ranh giới giữa khiếu nại, tố cáo trong THADS với khiếu nại, tố cáo thuộc các lĩnh vực có liên quan. Trong khi đó, hoạt động tổ chức THADS có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều lĩnh vực pháp luật khác như thẩm định giá, bán đấu giá tài sản, bồi thường nhà nước, phá sản, tiếp cận thông tin và một số hoạt động chuyên ngành khác. Thực tiễn cho thấy đã phát sinh trường hợp cơ quan THADS áp dụng trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo theo Thông tư số 13/2021/TT-BTP đối với các khiếu nại về kết quả thẩm định giá, bán đấu giá tài sản, yêu cầu bồi thường nhà nước hoặc việc quản lý, thanh lý tài sản của Quản tài viên, trong khi các nội dung này đã được pháp luật chuyên ngành quy định về thẩm quyền và trình tự giải quyết riêng. Do đó, Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã quy định phạm vi điều chỉnh theo hướng loại trừ đối với các đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động THADS nhưng thuộc thẩm quyền giải quyết theo các quy định của pháp luật chuyên ngành khác. Việc bổ sung quy định về phạm vi điều chỉnh theo hướng loại trừ trong Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã khắc phục khoảng trống so với Thông tư số 13/2021/TT-BTP, giúp phân định rõ phạm vi áp dụng của Thông tư với các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác, bảo đảm việc tiếp nhận, xử lý và giải quyết đơn đúng thẩm quyền, đúng trình tự pháp luật, hạn chế tình trạng chồng chéo hoặc áp dụng sai quy định.
(ii) Quy định về các trường hợp đơn không đủ điều kiện xử lý và lưu đơn:
Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã quy định lại toàn bộ cơ chế xử lý đơn không đủ điều kiện xử lý và lưu đơn tại Điều 45 theo hướng thống nhất, khoa học và phù hợp hơn với pháp luật về khiếu nại, tố cáo hiện hành. Thông tư số 06/2026/TT-BTP không còn quy định riêng lẻ, thiếu đồng bộ giữa đơn khiếu nại, tố cáo và kiến nghị, phản ánh như trước đây mà đã chuẩn hóa các trường hợp áp dụng chung (như đơn nặc danh, đơn đã được giải quyết, đơn bằng tiếng nước ngoài không đủ điều kiện, đơn có nội dung chống đối, xúc phạm, đơn rách nát, đơn gửi đồng thời nhiều cơ quan...), chỉ những nội dung mang tính đặc thù của từng loại đơn mới được quy định riêng.
Một điểm mới đáng chú ý khác của Thông tư số 06/2026/TT-BTP là bổ sung trường hợp đơn khiếu nại lần hai gửi đến người đã giải quyết khiếu nại lần đầu là đơn không đủ điều kiện xử lý. Trước đây, Thông tư số 13/2021/TT-BTP quy định trường hợp đơn khiếu nại gửi không đúng thẩm quyền thì được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy quy định này đã phát sinh bất cập khi một số trường hợp người khiếu nại cố tình gửi đơn khiếu nại lần hai đến chính người đã giải quyết khiếu nại lần đầu để được chuyển đơn đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai. Trong khi đó, Luật THADS cũng như trong quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, người khiếu nại đã được thông báo đầy đủ về quyền khiếu nại lần hai, thời hiệu khiếu nại và người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai. Do đó, việc tiếp tục gửi đơn đến người đã giải quyết khiếu nại lần đầu không còn là trường hợp gửi sai thẩm quyền cần được chuyển đơn, mà là trường hợp người khiếu nại không thực hiện đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Đặc biệt, điểm b khoản 4 Điều 45 Thông tư số 06/2026/TT-BTP là quy định mới có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Theo đó, đối với các trường hợp đơn không xác định được người bị khiếu nại, quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc không xác định được người bị tố cáo, hành vi bị tố cáo, cơ quan có thẩm quyền chỉ thực hiện lưu đơn sau khi đã hướng dẫn người làm đơn nhưng họ vẫn không thực hiện việc bổ sung, hoàn thiện nội dung theo yêu cầu. Quy định này đã thay thế cơ chế trước đây tại điểm h khoản 4 Điều 8 và điểm i khoản 3 Điều 16 Thông tư số 13/2021/TT-BTP là người xử lý đơn phải mời người khiếu nại, người tố cáo đến làm việc hợp lệ hai lần hoặc ban hành văn bản yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, và chỉ khi người dân không đến hoặc không cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng mới được lưu đơn.
(iii) Quy định về thời hạn, hình thức gửi văn bản về khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh
Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã quy định mới về thời hạn, hình thức gửi các văn bản thể hiện kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại Điều 66 để bảo đảm tính minh bạch, đảm bảo người có đơn nhận đầy đủ và kịp thời các văn bản thể hiện kết quả giải quyết để họ biết nội dung giải quyết, đồng thời thực hiện các quyền pháp lý tiếp theo như khiếu nại tiếp, tố cáo tiếp hoặc thực hiện các quyền, nghĩa vụ liên quan, tránh phát sinh khiếu nại, tố cáo về việc đã hay chưa có kết quả giải quyết.
Ngoài ra, việc quy định cụ thể các hình thức gửi văn bản như gửi trực tiếp; gửi Dịch vụ bưu chính bằng thư bảo đảm; gửi qua môi trường số đã tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan THADS linh hoạt lựa chọn phương thức gửi phù hợp với điều kiện thực tế, đồng thời khuyến khích việc ứng dụng công nghệ thông tin, góp phần rút ngắn thời gian xử lý công việc, giảm chi phí hành chính và nâng cao hiệu quả phục vụ người dân.
(iv) Quy định về dữ liệu về xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong Cơ sở dữ liệu về THADS
Trước đây, Thông tư số 13/2021/TT-BTP chưa có quy định về việc tạo lập, quản lý, khai thác và kết nối dữ liệu điện tử đối với công tác xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong THADS. Trong khi đó, yêu cầu chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước, xây dựng Chính phủ điện tử và phát triển cơ sở dữ liệu chuyên ngành ngày càng đặt ra yêu cầu phải quản lý tập trung, thống nhất toàn bộ thông tin liên quan đến quá trình tiếp nhận, xử lý và giải quyết đơn thư.
Xuất phát từ yêu cầu đó, Điều 6 Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã lần đầu tiên quy định việc tạo lập, cập nhật, quản lý và khai thác dữ liệu về xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong Cơ sở dữ liệu về THADS. Quy định này tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành một hệ thống dữ liệu nghiệp vụ thống nhất trong toàn ngành, phục vụ hiệu quả công tác tiếp nhận, xử lý đơn, theo dõi tiến độ giải quyết, thống kê, báo cáo, kiểm tra, giám sát và chỉ đạo, điều hành; đồng thời, việc chuẩn hóa dữ liệu cũng góp phần hạn chế tình trạng cập nhật phân tán, trùng lặp, thiếu thống nhất giữa các cơ quan THADS, nâng cao tính chính xác, minh bạch và khả năng tra cứu, khai thác thông tin.
Đồng thời, dữ liệu về xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh trong THADS được kết nối, chia sẻ, liên thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và các cơ sở dữ liệu có liên quan.
2. Quy định về xử lý, giải quyết đơn khiếu nại
(i) Quy định rõ hình thức, trình tự xử lý đối với các trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết
Tại khoản 1 Điều 46 Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã cụ thể hóa hình thức, trình tự xử lý đối với các trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết là cơ quan có thẩm quyền phải ban hành Thông báo không thụ lý giải quyết khiếu nại. Quy định này tại Thông tư số 06/2026/TT-BTP tạo cơ sở pháp lý thống nhất để các cơ quan THADS thực hiện, bảo đảm tính minh bạch trong hoạt động giải quyết khiếu nại, giúp người khiếu nại biết rõ lý do không được thụ lý; đồng thời, còn khắc phục tình trạng xử lý không thống nhất (nơi trả lời bằng công văn hành chính, nơi không ban hành văn bản). Qua đó, góp phần bảo đảm tính công khai, thống nhất và chuẩn hóa quy trình xử lý đơn khiếu nại trong thi hành án dân sự.
(ii) Quy định về cách thức thụ lý giải quyết khiếu nại:
Tại khoản 3 Điều 47 Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã hoàn thiện quy định về ban hành thông báo thụ lý giải quyết khiếu nại theo hướng linh hoạt, phù hợp hơn với thực tiễn xử lý đơn khiếu nại. Nếu như Thông tư số 13/2021/TT-BTP quy định người có thẩm quyền phải ban hành một thông báo thụ lý đối với mỗi đơn khiếu nại và chỉ quy định trường hợp nhiều người cùng khiếu nại một nội dung thì được ban hành một thông báo thụ lý chung, thì Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã bổ sung trường hợp một người khiếu nại đồng thời nộp nhiều đơn khiếu nại vào cùng một thời điểm cũng được ban hành một thông báo thụ lý chung. Việc cho phép ban hành một thông báo thụ lý đối với nhiều đơn của cùng một người vừa góp phần đơn giản hóa thủ tục, giảm khối lượng công việc hành chính cho cơ quan THADS, vừa bảo đảm thuận lợi trong việc theo dõi, quản lý và giải quyết khiếu nại.
Mặc dù vậy, Thông tư số 06/2026/TT-BTP cũng bổ sung quy định trường hợp đơn khiếu nại có nhiều nội dung liên quan đến nhiều quyết định, hành vi có thời hạn giải quyết khác nhau thì phải ban hành các thông báo thụ lý tương ứng với từng thời hạn giải quyết. Đây là quy định hoàn toàn mới so với Thông tư số 13/2021/TT-BTP nhằm khắc phục khoảng trống pháp lý trong thực tiễn. Quy định mới đã tạo cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền quản lý riêng từng nội dung khiếu nại theo đúng thời hạn luật định, bảo đảm việc giải quyết đúng trình tự, đúng thời hạn và nâng cao hiệu quả quản lý công tác giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự.
(iii) Quy định về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại (Điều 48):
- Về trình tự, thủ tục tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại, Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã quy định chi tiết hơn bằng việc quy định người có thẩm quyền phải ra thông báo tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại khi có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật Thi hành án dân sự. Đồng thời, Thông tư cũng quy định rõ về cách thức xử lý đối với trường hợp khiếu nại nhiều nội dung mà có nội dung tạm đình chỉ thì các nội dung còn lại tiếp tục giải quyết. Quy định bổ sung mới này giúp các cơ quan THADS thống nhất áp dụng pháp luật, khắc phục bất cập trước đây khi không biết phải tạm dừng giải quyết khiếu nại toàn bộ hay chỉ tạm dừng giải quyết với nội dung khiếu nại mà có căn cứ tạm đình chỉ theo hướng chỉ tạm đình chỉ đối với phần nội dung chưa đủ điều kiện giải quyết, còn các nội dung khác vẫn tiếp tục được xem xét, kết luận theo quy định.
- Đối với đình chỉ giải quyết khiếu nại, Thông tư số 06/2026/TT-BTP quy định bổ sung về việc ra thông báo đình chỉ giải quyết khiếu nại và các căn cứ cụ thể theo quy định tại khoản 3 Điều 105 Luật Thi hành án dân sự để đình chỉ việc giải quyết khiếu nại như người khiếu nại rút toàn bộ nội dung khiếu nại, người khiếu nại chết mà quyền, nghĩa vụ không được thừa kế, cơ quan, tổ chức khiếu nại chấm dứt hoạt động hoặc vụ việc không còn đối tượng để giải quyết. Đặc biệt, Luật THADS năm 2025 bổ sung trường hợp đình chỉ khi nội dung khiếu nại đã được xem xét, giải quyết theo trình tự tố cáo.
Ngoài ra, tại Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã bổ sung quy định về thời hạn 03 ngày làm việc để người có thẩm quyền ban hành thông báo tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại khi phát sinh căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ và thông báo tiếp tục giải quyết khiếu nại khi căn cứ tạm đình chỉ không còn.
Lưu ý: Thủ tục tạm đình chỉ/ đình chỉ giải quyết khiếu nại trong THADS là ban hành thông báo tạm đình chỉ/ đình chỉ giải quyết khiếu nại mà không phải ra quyết định tạm đình chỉ/ đình chỉ giải quyết khiếu nại theo Luật Khiếu nại.
(iv) Quy định về cách thức ban hành quyết định giải quyết khiếu nại và tính pháp lý cho hiệu lực thi hành của các quyết định giải quyết khiếu nại trong trường hợp đặc biệt:
Ngoài việc giữ nguyên nội dung quy định ra một quyết định giải quyết khiếu nại đối với mỗi thông báo thụ lý giải quyết khiếu nại, Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã quy định bổ sung về việc loại trừ trường hợp ban hành quyết định giải quyết khiếu nại mà trong đó có nội dung khiếu nại đã thụ lý mà đang tạm đình chỉ giải quyết. Đây là điểm mới so với Thông tư số 13/2021/TT-BTP, nhằm bảo đảm sự thống nhất với cơ chế tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại lần đầu được Luật Thi hành án dân sự năm 2025 bổ sung. Theo đó, đối với vụ việc khiếu nại có nhiều nội dung, nếu chỉ một hoặc một số nội dung phát sinh căn cứ tạm đình chỉ thì cơ quan có thẩm quyền vẫn tiếp tục giải quyết và ban hành quyết định đối với các nội dung còn lại đã đủ điều kiện, còn phần nội dung đang tạm đình chỉ sẽ được tiếp tục xem xét sau khi căn cứ tạm đình chỉ không còn. Quy định này khắc phục khoảng trống của pháp luật trước đây khi chưa có cơ chế xử lý đối với trường hợp một vụ việc khiếu nại vừa có nội dung đủ điều kiện giải quyết, vừa có nội dung phải tạm đình chỉ, qua đó tránh tình trạng toàn bộ vụ việc bị kéo dài chỉ vì một phần nội dung chưa thể xem xét.
(v) Quy định về một số trình tự, thủ tục xử lý đơn khiếu nại cụ thể:
- Quy định bổ sung về các trường hợp trả lời, hướng dẫn đơn: Thông tư số 06/2026/TT-BTP là đã mở rộng và quy định đầy đủ hơn các trường hợp cơ quan tiếp nhận đơn phải ban hành văn bản trả lời, hướng dẫn đối với đơn khiếu nại theo hướng cụ thể, đầy đủ và phù hợp hơn với Luật Thi hành án dân sự năm 2025. Theo đó, Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã bổ sung trường hợp đơn khiếu nại chưa được thụ lý nhưng nội dung khiếu nại đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền; trường hợp vụ việc không còn đối tượng hoặc nội dung để giải quyết; trường hợp người khiếu nại là cá nhân đã chết mà quyền, lợi ích liên quan không được thừa kế hoặc cơ quan, tổ chức khiếu nại đã giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động mà quyền, nghĩa vụ liên quan không được kế thừa. Đây đều là những trường hợp trên thực tế không còn đủ điều kiện để phát sinh hoặc tiếp tục quan hệ khiếu nại, nên việc quy định rõ trách nhiệm trả lời, hướng dẫn thay vì thụ lý giải quyết đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất cho cơ quan THADS trong quá trình xử lý đơn.
Đặc biệt, Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã bổ sung quy định không xem xét theo thủ tục khiếu nại đối với hành vi ban hành văn bản trả lời kiến nghị, phản ánh của cơ quan THADS và Văn phòng THADS. Quy định này góp phần phân định rõ phạm vi giữa cơ chế khiếu nại với cơ chế kiến nghị, phản ánh, bảo đảm việc áp dụng đúng trình tự, thủ tục pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác xử lý đơn trong THADS.
- Quy định bổ sung về cách thức xử lý đối với các đơn khiếu nại về việc không thụ lý, tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại, tố cáo: Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã hoàn thiện đáng kể cơ chế xử lý đơn khiếu nại đối với việc không thụ lý, tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại, tố cáo so với Thông tư số 13/2021/TT-BTP. Việc mở rộng này bảo đảm sự thống nhất với Luật THADS năm 2025 khi đã bổ sung đầy đủ các chế định về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại và quy định cụ thể hơn về trình tự giải quyết tố cáo, đồng thời khắc phục khoảng trống pháp lý trong xử lý các đơn phát sinh từ thực tiễn.
- Quy định về báo cáo, sao gửi hồ sơ, tài liệu: Ngoài việc giữ quy định về cách thức cung cấp hồ sơ, báo cáo giấy theo cách thức truyền thống tại Thông tư số 13/2021/TT-BTP, Thông tư số 06/TT-BTP đã quy định mở rộng hình thức cung cấp hồ sơ, tài liệu trên môi trường số, theo đó trường hợp hồ sơ, tài liệu được số hóa toàn trình thì việc cung cấp hồ sơ, tài liệu thực hiện theo quy định về cung cấp hồ sơ, tài liệu trên môi trường số. Quy định này thể hiện rõ định hướng chuyển đổi số trong hoạt động xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo của Hệ thống THADS khi cho phép cung cấp hồ sơ, tài liệu trên môi trường số đối với hồ sơ đã được số hóa toàn trình, thay cho phương thức quản lý, khai thác hồ sơ giấy truyền thống.
- Quy định xác định ngày khiếu nại để tính thời hiệu thụ lý khiếu nại: Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã bổ sung quy định cụ thể về việc xác định ngày khiếu nại để tính thời hiệu khiếu nại theo khoản 2 và khoản 3 Điều 96 Luật THADS năm 2025. Theo đó, Thông tư xác định rõ ngày khiếu nại tương ứng với từng phương thức thực hiện khiếu nại, bao gồm: ngày trình bày trực tiếp với người tiếp công dân hoặc người có thẩm quyền; ngày trực tiếp nộp đơn tại cơ quan có thẩm quyền; ngày gửi đơn qua dịch vụ bưu chính được thể hiện trên phong bì hoặc chứng từ gửi.
Quy định mới của Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất để xác định chính xác ngày khiếu nại, qua đó bảo đảm việc tính thời hiệu khiếu nại được thực hiện khách quan, minh bạch và thống nhất trong toàn hệ thống THADS.
- Quy định về rút khiếu nại: Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã sửa đổi, hoàn thiện quy định về xử lý trường hợp người khiếu nại, người tố cáo rút đơn theo hướng bảo đảm tính ổn định của quá trình giải quyết và phù hợp hơn với quy định của pháp luật hiện hành. Đối với khiếu nại, Thông tư số 06/2026/TT-BTP xác định rõ nguyên tắc: nội dung khiếu nại đã rút sẽ không được xem xét, giải quyết lại, trừ trường hợp có căn cứ xác định việc rút khiếu nại là do bị ép buộc hoặc đe dọa. Quy định việc rút khiếu nại sẽ không được xem xét lại là điểm mới quan trọng so với Thông tư số 13/2021/TT-BTP. Quy định này phù hợp với nội dung được sửa đổi, bổ sung của Luật Khiếu nại đã được sửa đổi, bổ sung năm 2026.
3. Quy định về xử lý, giải quyết đơn tố cáo
(i) Quy định về cách thức thụ lý tố cáo: Tương tự như về thụ lý giải quyết khiếu nại, Thông tư số 06/2026/TT-BTP cũng đã bổ sung quy định về cách thức thụ lý đơn tố cáo. Theo đó, Điều 53 Thông tư số 06/2026/TT-BTP quy định trường hợp người tố cáo có nhiều đơn tố cáo nhiều nội dung vào cùng thời điểm hoặc nhiều người tố cáo có nhiều đơn tố cáo về cùng một nội dung vào cùng thời điểm thì người có thẩm quyền giải quyết tố cáo ra một quyết định thụ lý tố cáo. Tuy nhiên, đối với thông báo thụ lý tố cáo và thông báo nội dung tố cáo, Thông tư quy định với trường hợp thụ lý tố cáo của nhiều người về cùng một nội dung vào cùng thời điểm thì người có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải ra từng thông báo về việc thụ lý tố cáo cho từng người có đơn tố cáo mà không phải là ra một thông báo cho nhiều người. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc đảm bảo bí mật thông tin, họ tên, bút tích của người tố cáo theo quy định của pháp luật về tố cáo.
(ii) Quy định về cách thức xử lý đơn tố cáo
- Xử lý đơn tố cáo không thuộc thẩm quyền: Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã hoàn thiện cơ chế xử lý đơn tố cáo không thuộc thẩm quyền theo hướng linh hoạt và phù hợp hơn với thực tiễn. Thông tư đã bổ sung phương thức ban hành văn bản hướng dẫn, trả lời đối với đơn tố cáo không thuộc thẩm quyền bên cạnh phương thức chuyển đơn.
- Xử lý đơn tố cáo về việc không thụ lý, tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại, tố cáo:
Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã bổ sung quy định về cách thức xử lý đối với các đơn tố cáo về việc không thụ lý, tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại, tố cáo. Theo đó, Bộ Tư pháp hoặc cơ quan quản lý THADS trực tiếp xem xét hồ sơ, tài liệu và xử lý theo cơ chế quy định tại khoản 5 Điều 46 của Thông tư. Đây là điểm khác biệt có chủ đích, xuất phát từ sự khác nhau về bản chất pháp lý giữa khiếu nại và tố cáo. Đối với khiếu nại, việc yêu cầu cơ quan đã ban hành quyết định hoặc văn bản tự rà soát trước là phù hợp với nguyên tắc tự kiểm tra, tự khắc phục trong hoạt động quản lý hành chính. Trong khi đó, tố cáo là việc cá nhân báo cho cơ quan có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
- Xử lý đơn tố cáo người giải quyết khiếu nại vi phạm về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết:
Xuất phát từ quy định tại Điều 17 Thông tư số 05/2021/TT-TTCP, Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã bổ sung quy định về xử lý đơn tố cáo đối với người giải quyết khiếu nại. Theo đó, trường hợp đơn tố cáo chỉ phản ánh việc người giải quyết khiếu nại có vi phạm về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại thì không thụ lý giải quyết theo quy định của Luật Tố cáo mà hướng dẫn người có đơn tiếp tục thực hiện quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật. Chỉ trong trường hợp người tố cáo cung cấp được thông tin, tài liệu, chứng cứ xác định người giải quyết khiếu nại có hành vi vi phạm một trong các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 6 của Luật Khiếu nại thì mới thụ lý giải quyết theo trình tự, thủ tục của Luật Tố cáo.
- Bỏ quy định về thời hạn kiến nghị của người bị tố cáo: Điều 59 Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã loại bỏ quy định về thời hạn để người bị tố cáo thực hiện quyền kiến nghị đối với kết luận nội dung tố cáo so với Thông tư số 13/2021/TT-BTP. Việc không còn ấn định một thời hạn cứng để thực hiện quyền kiến nghị nhằm bảo đảm tốt hơn quyền của người bị tố cáo trong việc yêu cầu xem xét lại kết luận nội dung tố cáo khi phát hiện có căn cứ cho rằng kết luận chưa khách quan, chưa đầy đủ hoặc có sai sót trong việc áp dụng pháp luật. Quy định này cũng phù hợp với bản chất của cơ chế kiến nghị, bởi đây không phải là một cấp giải quyết tố cáo tiếp theo mà là cơ chế để cơ quan cấp trên trực tiếp kiểm tra, rà soát tính đúng đắn của kết luận giải quyết tố cáo đã ban hành. Việc bỏ giới hạn về thời hạn kiến nghị góp phần bảo đảm quyền tự bảo vệ của người bị tố cáo, đồng thời tạo điều kiện để cơ quan có thẩm quyền kịp thời phát hiện, khắc phục các sai sót trong hoạt động giải quyết tố cáo nếu có.
4. Quy định về xử lý đơn kiến nghị, phản ánh
Thông tư số 06/2026/TT-BTP đã bổ sung quy định về thẩm quyền xử lý đơn kiến nghị, phản ánh theo hướng rõ ràng, khoa học hơn so với Thông tư số 13/2021/TT-BTP. Theo đó, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp có thẩm quyền xử lý các kiến nghị, phản ánh liên quan đến chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật và công tác quản lý trong lĩnh vực THADS; trong khi Thủ trưởng cơ quan THADS và Trưởng Văn phòng THADS có thẩm quyền xử lý các kiến nghị, phản ánh liên quan đến việc tổ chức thi hành án tại cơ quan, đơn vị mình.
Việc phân định thẩm quyền theo nội dung thay vì chỉ căn cứ vào cấp quản lý đã khắc phục khoảng trống của Thông tư số 13/2021/TT-BTP, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để xác định đúng cơ quan có trách nhiệm xử lý đơn ngay từ khi tiếp nhận, hạn chế tình trạng chuyển đơn nhiều lần hoặc xử lý không đúng thẩm quyền. Đồng thời, quy định này cũng phù hợp với mô hình tổ chức THADS một cấp ở địa phương theo Luật THADS năm 2025 và bảo đảm nguyên tắc cơ quan nào quản lý lĩnh vực hoặc trực tiếp tổ chức thực hiện hoạt động thi hành án thì cơ quan đó có trách nhiệm xem xét, xử lý các kiến nghị, phản ánh thuộc phạm vi quản lý của mình./.
Ban Kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo