Những điểm mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Thi hành án dân sự theo quy định của Nghị định số 109/2026/NĐ-CP ngày 10/4/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
21/05/2026
Ngày 10/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (thay thế Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 117/2024/NĐ-CP), sau đây gọi là Nghị định số 109/2026/NĐ-CP. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 18/5/2026. So với Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 117/2024/NĐ-CP ngày 18/9/2024, Nghị định số 109/2026/NĐ-CP có một số điểm mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Thi hành án dân sự (THADS), cụ thể như sau:
1.Về phạm vi xử phạt vi phạm hành chính
Một là, Nghị định số 109/2026/NĐ-CP mở rộng phạm vi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự, theo đó chuyển các quy định về xử phạt vị phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong hoạt động Thừa phát lại từ lĩnh vực bổ trợ tư pháp sang lĩnh vực THADS. Việc quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động Thừa phát lại từ lĩnh vực bổ trợ tư pháp sang lĩnh vực THADS là phù hợp với chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Tổng cục THADS (nay là Cục Quản lý THADS) theo Quyết định số 854/QĐ-BTP ngày 28/2/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Theo đó, từ 01/3/2025, Tổng cục THADS sẽ quản lý toàn bộ các hoạt động của Thừa phát lại trên phạm vi toàn quốc, bao gồm việc thành lập, tổ chức, hoạt động và xử lý vi phạm nhằm sắp xếp lại bộ máy, tạo sự thống nhất, đồng bộ giữa hoạt động thi hành án dân sự và hoạt động Thừa phát lại.
Hai là, Nghị định 109/2026/NĐ-CP đã bổ sung thêm một số hành vi vi phạm bị xử phạt trong hoạt động THADS và hoạt động Thừa phát lại, cụ thể:
Trong hoạt động THADS:
- Bổ sung hành vi “Không cung cấp thông tin định danh cá nhân, thông tin liên quan đến tài sản bị xử lý để thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền thi hành án mà không có lý do chính đáng” với mức phạt từ 1.000.000 đ – 3.000.000 đ (điểm a khoản 2 Điều 65)
Trong hoạt động Thừa phát lại:
-Bổ sung các hành vi vi phạm của Văn phòng Thừa phát lại thì bị phạt với mức từ 3.000.000 đ đến 7.000.000 đ bao gồm:
+ Không cử Thừa phát lại tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ (điểm a khoản 2 Điều 69);
+ Thừa phát lại hướng dẫn nhiều hơn 03 người tập sự trong cùng một thời gian (điểm g khoản 2 Điều 69).
Ba là, Nghị định 109/2026/NĐ-CP đã loại bỏ một hành vi vi phạm trong lĩnh vực Thừa phát lại trước đây bị xử phạt thì nay không bị xử phạt nữa, cụ thể là hành vi: “Lập vi bằng liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người thân thích của mình, bao gồm: Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô dì và anh, chị, em ruột của thừa phát lại, của vợ hoặc chồng của thừa phát lại, cháu ruột mà thừa phát lại là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì”.
2. Về hình thức xử phạt
Đối với hành vi vi phạm của Thừa phát lại trong lĩnh vực THADS, Nghị định 109/2026/NĐ-CP bỏ hình thức xử phạt cảnh cáo đối với hành vi: Thông báo không đúng về thời hạn, hình thức của quyết định, giấy tờ, văn bản về THADS cho đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định (khoản 1 Điều 66).
3. Về mức xử phạt
Nghị định 109/2026/NĐ-CP đã nâng mức xử phạt đối với một số hành vi vi phạm quy định về hoạt động của Văn phòng Thừa phát lại từ mức phạt từ 1.000.000 – 3.000.000 đồng lên mức phạt từ 3.000.000 đồng -7.000.000 đồng, cụ thể là các hành vi sau:
- Không niêm yết hoặc niêm yết không đầy đủ lịch làm việc hoặc nội quy tiếp người yêu cầu tại trụ sở Văn phòng Thừa phát lại (điểm h khoản 2 Điều 69);
- Không niêm yết hoặc niêm yết không đầy đủ thủ tục hoặc chi phí thực hiện công việc tại trụ sở Văn phòng Thừa phát lại (điểm I khoản 2 Điều 69);
- Lập, quản lý, sử dụng sổ sách, biểu mẫu không đúng quy định (điểm k khoản 2 Điều 69);
- Thực hiện không đầy đủ chế độ thông tin, báo cáo theo quy định (điểm l khoản 2 Điều 69);
- Sử dụng biển hiệu không đúng mẫu quy định (điểm m khoản 2 Điều 69).
4. Về các biện pháp khắc phục hậu quả
Nghị định 109/2026/NĐ-CP bổ sung hình thức khắc phục hậu quả trong hoạt động Thừa phát lại: “buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu do thực hiện hành vi mở chi nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch ngoài trụ sở Văn phòng Thừa phát lại” (điểm a khoản 8 Điều 69).
5. Về thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự
5.1. Về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính
Một là, Nghị định 109/2026/NĐ-CP đã bỏ thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính của công chức, viên chức Sở Tư pháp đối với các hành vi vi phạm trong hoạt động Thừa phát lại quy định tại Mục 2 Chương V của Nghị định, đồng thời chuyển thẩm quyền này sang cho công chức cơ quan THADS. Tuy nhiên, quy định này không phù hợp với thực tiễn quản lý nhà nước về hoạt động Thừa phát lại. Bởi lẽ, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động Thừa phát lại ở Trung ương là Bộ Tư pháp (do Cục quản lý THADS tham mưu thực hiện) nhưng cơ quan quản lý nhà nước về Thừa phát lại ở địa phương là UBND cấp tỉnh (do Sở Tư pháp tham mưu thực hiện); cơ quan THADS địa phương không có chức năng quản lý nhà nước về Thừa phát lại do đó công chức của cơ quan THADS địa phương không thể lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính đối với hoạt động của Thừa phát lại ngoài phạm vi hoạt động về thi hành án dân sự. Về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong hoạt động Thừa phát lại nên quy định như sau:
1. Công chức, viên chức Sở Tư pháp lập biên bản vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định tại Điều 67, 68, 69 của Nghị định này.
2. Công chức cơ quan Thi hành án dân sự lập biên bản vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định tại Điều 65, 66 và điểm s khoản 2, điểm s khoản 3 Điều 82 Nghị định này.
Hai là, Nghị định 109/2026/NĐ-CP bổ sung thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính của công chức cơ quan THADS đối với các hành vi:
+ Sử dụng văn bản, giấy tờ giả để yêu cầu thi hành án hoặc làm sai lệch trình tự, thủ tục, kết quả giải quyết việc thi hành án dân sự (điểm s khoản 2 Điều 82);
+ Làm giả văn bản, giấy tờ để yêu cầu thi hành án hoặc làm sai lệch trình tự, thủ tục, kết quả giải quyết việc thi hành án dân sự (điểm s khoản 3 Điều 82).
5.2. Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực THADS
Một là, Nghị định 109/2026/NĐ-CP bỏ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan Thanh tra trong lĩnh vực THADS; bỏ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Cục trưởng Cục Bổ trợ Tư pháp trong hoạt động Thừa phát lại.
Hai là, Nghị định 109/2026/NĐ-CP bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự (Thừa phát lại) của Giám đốc Sở Tư pháp (khoản 1 Điều 85), cụ thể như sau:
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến đến 32.000.000 đ;
+ Đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
+ Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này.
Ba là, Nghị định 109/2026/NĐ-CP bổ sung thẩm quyền xử phạt của Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành do Cục trưởng Cục Quản lý THADS thành lập có quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực được phân cấp, ủy quyền thực hiện kiểm tra chuyên ngành (khoản 5 Điều 85).
Bốn là, Nghị định 109/2026/NĐ-CP bổ sung thẩm quyền xử phạt của Trưởng đoàn kiểm tra chuyên ngành do Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập có quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực THADS (khoản 6 Điều 85), cụ thể:
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền đến đến 40.000.000 đ;
+ Đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
+ Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này.
Năm là, Nghị định 109/2026/NĐ-CP bỏ quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chấp hành viên đang thi hành công vụ và Chi cục trưởng Chi cục THADS;
Sáu là, Nghị định 109/2026/NĐ-CP bổ sung thẩm quyền “Tước quyền sử dụng thẻ thừa phát lại có thời hạn hoặc định chỉ hoạt động có thời hạn” cho Thủ trưởng cơ quan THADS; trưởng phòng thi hành án cấp quân khu và Cục trưởng Cục Quản lý THADS (điểm d khoản 1 Điều 86).
Bảy là, Nghị định 109/2026/NĐ-CP bỏ mức giá trị của tang vật, phương tiện vi phạm hành chính mà Thủ trưởng cơ quan THADS; trưởng phòng thi hành án cấp quân khu được tịch thu. Theo đó, tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP thì Thủ trưởng cơ quan THADS; Trưởng phòng thi hành án cấp quân khu được tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt (tối đa 40.000.000 đ). Hiện tại, theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP thì được tịch thu tang vật, phương tiện không phụ thuộc vào giá trị của tang vật, phương tiện đó (điểm c khoản 1 Điều 86)./.
Ban Nghiệp vụ Thi hành án hành chính và Thừa hành viên