Quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2025 về bảo đảm tài chính để thi hành án và những vấn đề đặt ra để triển khai hiệu quả trên thực tế
21/05/2026
I. QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2025 VỀ BẢO ĐẢM TÀI CHÍNH ĐỂ THI HÀNH ÁN
1. Khái quát chung về cơ chế bảo đảm tài chính để thi hành án
Bảo đảm tài chính để thi hành án là việc ngân sách nhà nước cấp kinh phí cho cơ quan, tổ chức hoạt động hoàn toàn bằng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, phải thi hành án, đã áp dụng mọi biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn không có khả năng thi hành án thì ngân sách nhà nước bảo đảm nghĩa vụ thi hành án.
Cơ chế bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án xuất phát từ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước và các tổ chức hoạt động hoàn toàn bằng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp. Các cơ quan, tổ chức này được ngân sách nhà nước cấp kinh phí để hoạt động, thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, phát sinh nghĩa vụ phải thi hành án, cơ quan, tổ chức đã dùng mọi biện pháp theo quy định pháp luật để thi hành án mà không đủ thì ngân sách nhà nước cấp kinh phí theo trình tự, thủ tục bảo đảm tài chính để thi hành án. Điều này nhằm đảm bảo cho các cơ quan, tổ chức tiếp tục được duy trì hoạt động, đồng thời thực hiện nguyên tắc hiến định mọi Bản án, quyết định của Tòa án phải được tôn trọng và nghiêm chỉnh thi hành theo đúng tinh thần nguyên tắc hiến định mà nhiều bản Hiến pháp ở nước ta đã quy định (nay là Điều 106 Hiến pháp năm 2013); góp phần bảo vệ kỷ cương pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Cơ chế bảo đảm tài chính được quy định lần đầu tiên tại Luật Thi hành án dân sự (THADS) năm 2008 (Điều 65), được cụ thể hoá tại Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật THADS (các Điều từ 27-30) và Thông tư liên tịch số 04/2009/TT- BTP – BTC ngày 15/10/2009 hướng dẫn bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án. Sau khi Luật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật THADS năm 2014, cơ chế bảo đảm tài chính tiếp tục được quy định và được cụ thể hoá tại Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật THADS (từ Điều 39-42) và Thông tư liên tịch số 07/2016/TT- BTP – BTC ngày 10/6/2009 hướng dẫn bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án. Qua 17 năm thi hành Luật THADS năm 2008, cơ chế bảo đảm tài chính đã thể hiện tính đúng đắn và phù hợp với thực tiễn.
Ngày 05/12/2025, Quốc hội Khóa XV đã thông qua Luật THADS (sửa đổi) số 106/2025/QH15 (Luật THADS năm 2005), có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Luật THADS năm 2025 tiếp tục kế thừa quy định về cơ chế bảo đảm tài chính để thi hành án của Luật THADS năm 2008.
2. Quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2025 về bảo đảm tài chính để thi hành án
Theo Luật THADS năm 2025, cơ chế bảo đảm tài chính để thi hành án được quy định tại Điều 51, nội dung cụ thể như sau:
Trường hợp cơ quan, tổ chức hoạt động hoàn toàn bằng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp phải thi hành án đã áp dụng mọi biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn không có khả năng thi hành án thì ngân sách nhà nước bảo đảm nghĩa vụ thi hành án. Việc xử lý trách nhiệm vật chất đối với người gây ra thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Chính phủ quy định chi tiết thẩm quyền, điều kiện, đối tượng, thủ tục bảo đảm tài chính để thi hành án.
So với quy định tại Điều 65 Luật THADS năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật THADS năm 2014, Điều 51 Luật THADS năm 2025 đã kế thừa toàn bộ, không có sự khác biệt. Những nội dung mới được quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật THADS năm 2025.
2.2. Quy định của Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật THADS
Ngày 13/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 152/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật THADS (Nghị định số 152/2026/NĐ-CP), có hiệu lực cùng với Luật THADS năm 2025 vào ngày 01/7/2026. Quy định cơ chế bảo đảm tài chính để thi hành án tại Mục 2 Chương III Nghị định (quản lý, sử dụng kinh phí trong thi hành án dân sự và bảo đảm tài chính để thi hành án), gồm 9 điều (từ Điều 88 đến Điều 96). Theo quy định của Nghị định, nội dung cơ chế bảo đảm tài chính để thi hành án cụ thể như sau:
2.2.1. Đối tượng được bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án (Điều 88)
Đối tượng được bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án theo quy định tại Điều 51 của Luật Thi hành án dân sự bao gồm:
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan, đơn vị thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoạt động hoàn toàn bằng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp;
- Đơn vị sự nghiệp do nhà nước thành lập, được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động;
- Đơn vị thuộc lực lượng vũ trang được nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động.
Đối tượng được bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án nêu trên khi hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, chuyển đổi, kết thúc hoạt động, sắp xếp lại thì thực hiện như sau:
- Trường hợp hợp nhất, sáp nhập thì tổ chức mới tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Nếu tổ chức mới thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này thì ngân sách nhà nước bảo đảm tài chính để thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
- Trường hợp chia, tách thì cơ quan ra quyết định chia, tách phải xác định rõ tổ chức tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thi hành án theo quyết định chia, tách. Trường hợp quyết định chia, tách không quy định nghĩa vụ của các tổ chức mới thì sau khi chia, tách các tổ chức mới có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ thi hành án của tổ chức bị chia, tách. Nếu các tổ chức mới thuộc đối tượng được quy định tại khoản 1 Điều này thì ngân sách nhà nước bảo đảm tài chính để thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
- Trường hợp giải thể, chuyển đổi, kết thúc hoạt động, sắp xếp lại thì cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định giải thể, chuyển đổi, kết thúc hoạt động, sắp xếp lại có trách nhiệm xác định rõ tổ chức tiếp nhận nghĩa vụ thi hành án. Trường hợp quyền, nghĩa vụ thi hành án của tổ chức bị giải thể, chuyển đổi, kết thúc hoạt động, sắp xếp lại được chuyển giao cho tổ chức khác thì tổ chức mới tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
2.2.2. Điều kiện được bảo đảm tài chính để thi hành án (Điều 89)
Cơ quan, tổ chức phải thi hành án thuộc diện được bảo đảm tài chính để thi hành án theo quy định tại Điều 51 của Luật Thi hành án dân sự chỉ được ngân sách nhà nước bảo đảm tài chính để thi hành án sau khi đã sử dụng khoản kinh phí tiết kiệm được từ nguồn kinh phí tự chủ được cấp theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có khả năng thi hành án.
Khoản kinh phí tiết kiệm nêu trên được xác định kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đến thời điểm có quyết định thi hành án và chỉ được sử dụng để bảo đảm cho các nghĩa vụ phải thi hành án.
So với quy định của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 07/2016/TT- BTP – BTC, quy định của Nghị định số 152/2026/NĐ-CP về điều kiện được bảo đảm tài chính có các điểm mới sau đây:
Thứ nhất, Nghị định bỏ điều kiện về việc cơ quan, tổ chức phải thi hành án phải yêu cầu người có lỗi thực hiện nghĩa vụ thi hành án (quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch số số 07/2016/TT- BTP - BTC). Việc sửa đổi này nhằm khắc phục những vướng mắc trên thực tiễn thực hiện cơ chế bảo đảm tài chính trong nhiều năm qua. Do người có lỗi gây thiệt hại không phải người phải thi hành án theo bản án, quyết định của Toà án nên không có cơ chế để bắt buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án mà chỉ có thể vận động, thuyết phục họ thực hiện. Trên thực tế, người có lỗi thường không thực hiện hoặc chỉ thực hiện một phần rất nhỏ, nhiều trường hợp người có lỗi có tài sản vẫn không thực hiện nghĩa vụ nhưng không có cơ chế để bắt buộc họ phải thực hiện. Trường hợp người có lỗi gây thiệt hại có tài sản nhưng không thực hiện nghĩa vụ thì cơ quan phải thi hành án không thể lập hồ sơ bảo đảm tài chính để thi hành án, dẫn đến kéo dài thời gian, làm phát sinh lãi chậm thi hành án, gây thiệt hại cho Ngân sách nhà nước, có thể làm phát sinh khiếu kiện của người bị thiệt hại do chậm thi hành án. Nghị định 152/2026/NĐ-CP bỏ quy định về việc yêu cầu người có lỗi thực hiện nghĩa vụ nhằm đảm bảo tính khả thi của việc lập hồ sơ bảo đảm tài chính và tính kịp thời đảm bảo quyền lợi cho người được thi hành án. Trách nhiệm vật chất của người có lỗi gây thiệt hại được xem xét sau khi Ngân sách nhà nước cấp kinh phí bảo đảm tài chính để thi hành án.
Thứ hai, Nghị định sửa đổi về thời gian cơ quan tổ chức phải thi hành án phải thực hiện tiết kiệm kinh phí từ nguồn kinh phí tự chủ để thi hành án. Theo quy định hiện hành (khoản 2 Điều 2 Thông tư liên tịch số số 07/2016/TT- BTP - BTC) thì cơ quan phải thi hành án phải thực hiện tiết kiệm kinh phí từ nguồn kinh phí tự chủ để thi hành án từ thời điểm bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật đến thời điểm lập hồ sơ bảo đảm tài chính, trong khoảng thời gian này, cơ quan phải thi hành án không được phép chi khen thưởng, phúc lợi, thu nhập tăng thêm. Trên thực tế, có nhiều vụ việc từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật đến thời điểm cơ quan phải thi hành án lập được hồ sơ bảo đảm tài chính kéo dài nhiều năm, trong thời gian đó, cơ quan phải thi hành án không được chi khen thưởng, phúc lợi, thu nhập tăng thêm, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người lao động khác trong cơ quan (không phải là người có lỗi gây thiệt hại). Nghị định đã sửa đổi thời gian tiết kiệm kinh phí theo hướng rút ngắn hơn nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong cơ quan phải thi hành án như đã nên trên.
2.2.3. Phạm vi bảo đảm tài chính để thi hành án (Điều 90)
Ngân sách nhà nước bảo đảm tài chính để thi hành án trong các trường hợp sau đây:
- Đối với nghĩa vụ thanh toán bằng tiền được xác định trong bản án, quyết định, bao gồm nghĩa vụ bằng tiền mặt, nghĩa vụ bằng tài sản nếu bản án, quyết định đã quy ra thành tiền;
- Đối với nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định là nghĩa vụ giao tài sản nhưng tài sản phải giao bị giảm giá trị hoặc tài sản phải giao không còn sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp nghĩa vụ thi hành án của cơ quan, tổ chức phát sinh do người thi hành công vụ gây ra và đã được giải quyết theo trình tự, thủ tục bồi thường nhà nước thì việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước.
2.2.4. Xác định nghĩa vụ phải thi hành án (Điều 91)
Nghĩa vụ phải thi hành án là căn cứ tính mức bảo đảm tài chính để thi hành án và được xác định như sau:
a) Đối với nghĩa vụ thi hành án là nghĩa vụ giao tài sản:
Nghĩa vụ phải thi hành án trong trường hợp tài sản bị giảm sút giá trị hoặc giá trị của tài sản trong trường hợp tài sản phải giao không còn, thì giá trị giảm sút hoặc giá trị của tài sản phải giao được xác định như sau:
- Giá trị trong văn bản thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá do cơ quan thi hành án dân sự ký hợp đồng thẩm định giá nếu các bên đương sự không thỏa thuận được việc thanh toán bằng tiền đối với tài sản là vật cùng loại hoặc thỏa thuận thanh toán bằng tiền cao hơn giá trị trong văn bản thẩm định giá;
- Giá trị thỏa thuận của các bên đương sự trong trường hợp giá trị thỏa thuận thấp hơn giá trị xác định trong văn bản thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá do cơ quan thi hành án dân sự ký hợp đồng thẩm định giá.
b) Trong trường hợp cơ quan, tổ chức phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án với nhiều người được thi hành án trong một bản án, quyết định hoặc phải thực hiện nhiều nghĩa vụ thi hành án trong nhiều bản án, quyết định khác nhau thì nghĩa vụ phải thi hành án là tổng các nghĩa vụ thi hành án mà cơ quan, tổ chức phải thi hành án phải thực hiện.
2.2.5. Thẩm quyền quyết định, mức và nguồn kinh phí bảo đảm tài chính để thi hành án (Điều 92)
a) Về thẩm quyền quyết định kinh phí bảo đảm tài chính
Kinh phí bảo đảm thi hành án đối với cơ quan, tổ chức phải thi hành án là đơn vị thuộc trung ương quản lý do ngân sách trung ương bảo đảm; kinh phí bảo đảm để thi hành án đối với tổ chức phải thi hành án là đơn vị thuộc địa phương quản lý do ngân sách địa phương bảo đảm theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành; kinh phí bảo đảm thi hành án đối với các đơn vị trong lực lượng vũ trang do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Thẩm quyền, mức bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định của pháp luật ngân sách nhà nước.
Kinh phí bảo đảm tài chính để thi hành án không được sử dụng vào mục đích khác.
b) Mức bảo đảm tài chính để thi hành án do người có thẩm quyền quyết định được xác định như sau:
- Mức bảo đảm tài chính để thi hành án là phần còn lại của nghĩa vụ thi hành án sau khi cơ quan, tổ chức phải thi hành án đã dùng khoản tiết kiệm từ nguồn kinh phí tự chủ để thanh toán nghĩa vụ thi hành án;
- Trường hợp cơ quan, tổ chức phải thi hành án không tiết kiệm được kinh phí từ nguồn kinh phí tự chủ để thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì mức bảo đảm tài chính để thi hành án là toàn bộ nghĩa vụ phải thi hành án.
2.2.6. Thủ tục bảo đảm tài chính để thi hành án (Điều 93)
- Cơ quan, tổ chức phải thi hành án thuộc diện được đảm bảo tài chính để thi hành án có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị bảo đảm tài chính để thi hành án.
- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm sử dụng khoản kinh phí tiết kiệm được từ nguồn kinh phí tự chủ để thanh toán nghĩa vụ thi hành án.
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi đã sử dụng khoản kinh phí tiết kiệm để thanh toán nghĩa vụ thi hành án nhưng không thực hiện được hoặc chỉ thực hiện được một phần nghĩa vụ thi hành án, cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm hoàn thành hồ sơ để cấp kinh phí bảo đảm tài chính để thi hành án.
Hồ sơ đề nghị bảo đảm tài chính để thi hành án gồm:
(1) Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật;
(2) Quyết định thi hành án;
(3) Báo cáo về tình hình thực hiện nghĩa vụ thi hành án của cơ quan, tổ chức phải thi hành án đã sử dụng khoản kinh phí tiết kiệm;
(4) Biên bản thỏa thuận thanh toán bằng tiền đối với nghĩa vụ giao tài sản của các bên đương sự. Biên bản phải được lập thành văn bản, có chữ ký, đóng dấu (nếu có) của các bên đương sự và có xác nhận của Chấp hành viên phụ trách việc thi hành án.
Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm ký hợp đồng thẩm định giá với doanh nghiệp thẩm định giá chậm nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày các bên đương sự không thỏa thuận được việc thanh toán bằng tiền hoặc kể từ ngày các bên đương sự thỏa thuận được thanh toán bằng tiền nghĩa vụ giao tài sản theo bản án, quyết định. Chi phí thẩm định giá do cơ quan, tổ chức phải thi hành án
chi trả từ nguồn dự toán chi thường xuyên được giao để thực hiện.
- Hàng năm, căn cứ vào tình hình thực hiện năm trước, nhu cầu kinh phí và dự kiến nhiệm vụ phát sinh năm sau, các cơ quan, tổ chức phải thi hành án lập dự toán kinh phí bảo đảm tài chính để thi hành án, gửi cấp có thẩm quyền để bố trí kinh phí thực hiện. Khi phát sinh các vụ việc thuộc đối tượng được bảo đảm tài chính để thi hành án, sau khi thực hiện các biện pháp bảo đảm tài chính để thi hành án theo quy định mà không thực hiện được hoặc chỉ thực hiện được một phần nghĩa vụ thi hành án thì cơ quan, tổ chức phải thi hành án sử dụng từ nguồn kinh phí đảm bảo bảo tài chính để thi hành án trong dự toán ngân sách nhà nước được giao để thực hiện. Trường hợp trong năm, đơn vị chưa được bố trí kinh phí đảm bảo tài chính để thi hành án hoặc số kinh phí đảm bảo tài chính đã bố trí thấp hơn số kinh phí phát sinh trong năm thì đơn vị có trách nhiệm lập dự toán bổ sung ngay sau khi hoàn thành lập hồ sơ đảm bảo tài chính để thi hành án.
Cơ quan, tổ chức phải thi hành án chịu trách nhiệm về hồ sơ, thủ tục và kinh phí bảo đảm thi hành án.
2.2.8. Thanh toán tiền thi hành án trong trường hợp bảo đảm tài chính để thi hành án (Điều 94)
Thủ tục thanh toán tiền thi hành án trong trường hợp bảo đảm tài chính để thi hành án thực hiện như sau:
- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc lập hồ sơ, cơ quan, tổ chức phải thi hành án sử dụng kinh phí quy định tại khoản 3 Điều 93 Nghị định này để tiến hành các thủ tục thanh toán tiền thi hành án cho người được thi hành án thông qua cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển số tiền bảo đảm tài chính vào tài khoản tiền gửi của cơ quan thi hành án dân sự để thanh toán cho người được thi hành án.
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thực hiện xong việc thanh toán tiền thi hành án cho người được thi hành án, cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm lập báo cáo bằng văn bản về tình hình thanh toán tiền thi hành án cho người được thi hành án, gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp.
2.2.9. Thành lập Hội đồng xác định người có lỗi và trách nhiệm hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại (Điều 95)
- Trường hợp chưa có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định người có lỗi thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thanh toán tiền thi hành án cho người được thi hành án, người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm ban hành quyết định thành lập Hội đồng xác định người có lỗi và trách nhiệm hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại.
- Thành phần Hội đồng bao gồm:
+ Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải thi hành án. Trường hợp có căn cứ xác định người có lỗi gây ra thiệt hại là người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải thi hành án thì Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức phải thi hành án;
+ Người phụ trách trực tiếp của người có lỗi gây ra thiệt hại;
+ Kế toán trưởng hoặc người phụ trách công tác tài chính - kế toán của cơ quan, tổ chức phải thi hành án;
+ Trong trường hợp cần thiết có thể thuê chuyên gia thuộc các lĩnh vực có liên quan. Kinh phí thuê chuyên gia do Hội đồng chi trả từ nguồn dự toán chi thường xuyên được giao để thực hiện.
Trường hợp có căn cứ xác định có nhiều người có lỗi thuộc các cơ quan khác nhau cùng gây ra thiệt hại thì đại diện lãnh đạo các cơ quan này phải tham gia Hội đồng.
Người tham gia Hội đồng không được là vợ (hoặc chồng), ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi (bên vợ hoặc bên chồng), con đẻ, con nuôi, anh, chị, em ruột (bên vợ hoặc bên chồng), cháu nội, cháu ngoại của người có lỗi gây ra thiệt hại.
- Hội đồng có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Xem xét, xác định người có lỗi và trách nhiệm hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại;
+ Xác định điều kiện kinh tế của người có lỗi gây ra thiệt hại;
+ Kiến nghị với thủ trưởng cơ quan, tổ chức phải thi hành án về mức hoàn trả và phương thức hoàn trả.
- Phương thức làm việc của Hội đồng:
+ Hội đồng chỉ làm việc khi có tối thiểu 2/3 (hai phần ba) tổng số thành viên Hội đồng có mặt;
+ Hội đồng làm việc theo nguyên tắc thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Trong quá trình thảo luận và quyết định, các thành viên Hội đồng phải khách quan, dân chủ và tuân theo các quy định của pháp luật;
+ Việc kiến nghị về mức hoàn trả và phương thức hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại được thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu kín và theo nguyên tắc đa số trên tổng số thành viên Hội đồng có mặt.
Trường hợp số phiếu biểu quyết ngang nhau thì mức hoàn trả và phương thức hoàn trả sẽ do Chủ tịch Hội đồng quyết định;
+ Kết quả cuộc họp của Hội đồng phải được thể hiện bằng văn bản có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng.
- Mức hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại được xác định theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về xác định mức hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại.
2.2.10. Thủ tục hoàn trả các khoản bảo đảm tài chính để thi hành án vào ngân sách nhà nước (Điều 96)
Thủ tục hoàn trả các khoản bảo đảm tài chính để thi hành án vào ngân sách nhà nước thực hiện như sau:
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị về mức hoàn trả của Hội đồng xác định người có lỗi và trách nhiệm hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm ra quyết định về mức hoàn trả, thời hạn hoàn trả trên cơ sở đề nghị của Hội đồng xác định người có lỗi và trách nhiệm hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại, thu hồi số tiền hoàn trả của người gây thiệt hại để nộp ngân sách nhà nước.
Số tiền được thu hồi từ người có lỗi gây ra thiệt hại phải được nộp vào ngân sách Trung ương đối với cơ quan, tổ chức phải thi hành án là đơn vị thuộc Trung ương quản lý do ngân sách Trung ương bảo đảm tài chính để thi hành án hoặc nộp vào ngân sách địa phương đối với cơ quan, tổ chức phải thi hành án là đơn vị thuộc địa phương quản lý do ngân sách địa phương bảo đảm tài chính để thi hành án.
Việc quyết toán, thu, nộp ngân sách số tiền thu hồi được thực hiện theo chế độ quản lý tài chính hiện hành;
- Trong trường hợp người có lỗi gây ra thiệt hại đồng thời là người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải thi hành án thì người đứng đầu cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức phải thi hành án ra quyết định về mức hoàn trả, thời hạn hoàn trả vào ngân sách nhà nước;
- Quyết định hoàn trả phải ghi rõ mức hoàn trả, thời hạn hoàn trả. Quyết định hoàn trả phải được gửi cho người có lỗi gây ra thiệt hại và những người có liên quan để thực hiện. Trong trường hợp có đơn yêu cầu được miễn, giảm mức hoàn trả, người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm xem xét, quyết định theo thẩm quyền. Quyết định về việc miễn, giảm mức hoàn trả phải nêu rõ căn cứ pháp lý và lý do giải quyết;
- Trường hợp người phải hoàn trả không thống nhất với mức hoàn trả hoặc từ chối hoàn trả thì có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định hoàn trả theo quy định của pháp luật về khiếu nại và pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
- Việc hoàn trả có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần:
Trường hợp việc hoàn trả được thực hiện một lần thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định hoàn trả có hiệu lực pháp luật, người có trách nhiệm hoàn trả phải trả đủ số tiền đã được xác định trong quyết định hoàn trả.
Trường hợp thực hiện hoàn trả nhiều lần thì người có trách nhiệm hoàn trả số tiền theo mức và thời hạn đã được xác định trong quyết định hoàn trả.
Trong trường hợp việc hoàn trả được thực hiện bằng cách trừ dần vào lương hàng tháng của người có lỗi gây ra thiệt hại thì mức tối thiểu không dưới 10% và tối đa không quá 30% thu nhập từ tiền lương hàng tháng.
- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức đối với việc hoàn trả của người có lỗi gây ra thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể như sau:
+ Trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả đã thôi việc, nghỉ hưu hoặc chuyển công tác đến cơ quan, tổ chức khác thì cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức đang quản lý thu nhập của người đó thu hồi số tiền hoàn trả theo quyết định hoàn trả đã có hiệu lực pháp luật do cơ quan, tổ chức phải thi hành án đã ban hành;
+ Trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả đã chết sau khi có quyết định hoàn trả và người có trách nhiệm hoàn trả có tài sản thừa kế và người thừa kế, thì những người thừa kế di sản của người đó phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả theo quy định của pháp luật thừa kế; trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả chết mà không có tài sản thừa kế thì cơ quan, tổ chức phải thi hành án có trách nhiệm xác minh, lập thành văn bản và có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú khi còn sống về việc người đó không còn di sản. Ngay sau khi hoàn thành việc xác minh, cơ quan, tổ chức phải thi hành án phải ra quyết định miễn thực hiện trách nhiệm hoàn trả. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định miễn thực hiện trách nhiệm hoàn trả, cơ quan, tổ chức phải thi hành án phải báo cáo bằng văn bản và gửi kèm theo quyết định miễn thực hiện trách nhiệm hoàn trả tới cơ quan cấp trên trực tiếp và cơ quan tài chính có thẩm quyền.
Trường hợp người có trách nhiệm hoàn trả đã chết trước khi có quyết định hoàn trả thì cơ quan, tổ chức phải thi hành án không xem xét trách nhiệm hoàn trả đối với người đó;
- Trường hợp cơ quan, tổ chức phải thi hành án đã tiến hành các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật mà vẫn không thu hồi được số tiền hoàn trả thì cơ quan, tổ chức phải thi hành án có quyền khởi kiện yêu cầu người gây ra thiệt hại thực hiện nghĩa vụ hoàn trả theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự tại Tòa án.
Nghị định số 152/2026/NĐ-CP đã kế thừa các quy định về bảo đảm tài chính tại Nghị định số 62/2015/NĐ-CP và thu hút nội dung của Thông tư liên tịch số 07/2016/TT- BTP - BTC ngày 10/6/2009 hướng dẫn bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án vào nội dung nghị định. Nghị định số 152/2026/NĐ-CP đã sửa đổi 02 nội dung lớn nhằm khắc phục những vướng mắc khi thực hiện cơ chế bảo đảm tài chính để thi hành án trên thực tiễn đó là: (1) sửa đổi về điều kiện được bảo đảm tài chính (bỏ quy định về yêu cầu người có lỗi thực hiện nghĩa vụ và điều chỉnh thời gian thực hiện tiết kiệm kinh phí từ nguồn tự chủ để thi hành án của cơ quan phải thi hành án; (2) sửa đổi về trình tự, thủ tục bảo đảm tài chính (chuyển thời điểm thành lập Hội đồng xác định người có lỗi và xem xét trách nhiệm hoàn trả từ trước khi lập hồ sơ bảo đảm tài chính theo quy định hiện hành sang thời điểm sau khi được cấp kinh phí và đã chi trả tiền thi hành án).
II. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỂ TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ TRÊN THỰC TẾ
1. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo đảm tài chính
Cơ chế bảo đảm tài chính để thi hành án được quy định tại Luật THADS từ năm 2008 đến nay, tuy nhiên trên thực tế các cơ quan, tổ chức và người dân nhận thức rất hạn chế về cơ chế này. Qua 17 năm thực hiện Luật THADS năm 2008, đến nay số vụ việc được bảo đảm tài chính để thi hành án của các cơ quan, tổ chức được hoạt động hoàn toàn bằng ngân sách nhà nước rất thấp (chủ yếu là các cơ quan THADS), các cơ quan hành chính nhà nước mặc dù phải thi hành án nhưng chưa có vụ việc nào được bảo đảm tài chính. Một trong những nguyên nhân chính là do những cơ quan này không biết về cơ chế bảo đảm tài chính để thi hành án hoặc biết nhưng còn lúng túng trong khâu tổ chức thực hiện.
Luật THADS năm 2025 tiếp tục quy định về cơ chế bảo đảm tài chính để thi hành án như là một giải pháp để giúp các cơ quan, tổ chức hoạt động hoàn toàn bằng ngân sách nhà nước thực hiện nghĩa vụ thi hành án một cách kịp thời, góp phần bảo vệ kỷ cương pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật THADS đã có những quy định mới, khắc phục những tồn tại, hạn chế của pháp luật trong thực tiễn, giúp cho việc thực hiện bảo đảm tài chính được thuận lợi hơn.
Để triển khai hiệu quả những quy định của Luật THADS năm 2025 và Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật THADS về bảo đảm tài chính để thi hành án, cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến các cơ quan, tổ chức và đông đảo các tầng lớp nhân dân để biết và thực hiện. Đối với việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về cơ chế bảo đảm tài chính, vai trò của cơ quan THADS rất quan trọng, cơ quan THADS phải là đơn vị chủ trì tuyên truyền, phổ biến bằng các hình thức khác nhau. Đặc biệt là trong quá trình tổ chức thi hành án, khi ra quyết định thi hành án nếu phát hiện người phải thi hành án là cơ quan tổ chức thuộc diện được bảo đảm tài chính, cơ quan THADS cần tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn để cơ quan, tổ chức biết và thực hiện quyền của mình.
2. Tăng cường công tác tập huấn nghiệp vụ về bảo đảm tài chính để thi hành án
Qua thực tiễn 17 năm thực hiện cơ chế bảo đảm tài chính để thi hành án cho thấy: hầu hết các cơ quan, tổ chức thuộc diện được bảo đảm tài chính để thi hành án khi phát sinh nghĩa vụ thi hành án đều rất lúng túng trong việc thực hiện cơ chế bảo đảm tài chính để thi hành án, dẫn đến nhiều vụ việc kéo dài, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do cán bộ, công chức được giao thực hiện nhiệm vụ lập hồ sơ bảo đảm tài chính để thi hành án còn yếu về nghiệp vụ. Do đó, để triển khai hiệu quả những quy định của Luật THADS năm 2025 và Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật THADS về bảo đảm tài chính để thi hành án cần thiết phải tăng cường công tác tập huấn nghiệp vụ về bảo đảm tài chính để thi hành án cho đội ngũ cán bộ, công chức của các cơ quan, tổ chức thuộc diện được bảo đảm tài chính để thi hành án.
Về đối tượng tập huấn nghiệp vụ: Đối tượng được ưu tiên hàng đầu là công chức của cơ quan THADS (Lãnh đạo cơ quan THADS, Chấp hành viên, Thẩm tra viên). Đây là lực lượng chỉ đạo, tổ chức, thẩm tra thi hành án là người phải nắm vững nghiệp vụ để chỉ đạo thực hiện, tổ chức thi hành án, cần thiết phải có kỹ năng, nghiệp vụ để giải quyết các vụ việc mà các cơ quan THADS là người phải thi hành án. Đồng thời, họ là những người có trách nhiệm hướng dẫn, tập huấn nghiệp vụ bảo đảm tài chính để thi hành án cho cán bộ, công chức của các cơ quan, tổ chức thuộc diện được bảo đảm tài chính để thi hành án.
Về nội dung tập huấn, cần tập huấn đầy đủ các nội dung của Luật và Nghị định. Trong đó: tập trung vào phạm vi bảo đảm tài chính để thi hành án, giúp đối tượng tập huấn phân biệt được cơ chế bảo đảm tài chính và bồi thường nhà nước, từ đó lựa chọn đúng pháp luật áp dụng để thi hành án. Bởi lẽ, cả cơ chế bảo đảm tài chính và bồi thường nhà nước đều là việc Ngân sách nhà nước cấp kinh phí cho cơ quan, tổ chức hoạt động hoàn toàn bằng ngân sách nhà nước để thi hành bản án, quyết định của toà án có nội dung bồi thường thiệt hại, đều do cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức đó gây ra. Tuy nhiên, hai cơ chế này được thực hiện theo trình tự, thủ tục khác nhau. Do đó, trước hết phải xác định đúng phạm vi để từ đó lựa chọn pháp luật áp dụng và thực hiện trình tự, thủ tục tương ứng với từng cơ chế.
Về hình thức tập huấn, cần sinh động, trực quan, kết hợp giữa quy định pháp luật và tình huống thực tiễn, giúp cho đối tượng tập huấn hiểu sâu, nhớ lâu.
3. Tăng cường kiểm tra, theo dõi, đôn đốc giải quyết kịp thời các vụ việc bảo đảm tài chính để thi hành án đã phát sinh; tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm, nhất là các vụ việc bức xúc, kéo dài trong nhiều năm.
Hiện tại, trong lĩnh vực THADS còn tồn đọng một số vụ việc thuộc diện bảo đảm tài chính để thi hành án chưa thực hiện xong. Nguyên nhân chưa thi hành xong do nhiều nguyên nhân, xong nguyên nhân chính xuất phát từ vướng mắc của quy định pháp luật về điều kiện được bảo đảm tài chính. Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật THADS năm 2025 đã sửa đổi, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về điều kiện được bảo đảm tài chính. Do đó, Cục Quản lý THADS cần tăng cường kiểm tra, theo dõi, đôn đốc giải quyết kịp thời các vụ việc bảo đảm tài chính để thi hành án đã phát sinh; tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm, nhất là các vụ việc bức xúc, kéo dài trong nhiều năm.
Đối với các cơ quan THADS địa phương cũng cần tập trung rà soát các vụ việc thi hành án mà người phải thi hành án là các cơ quan, tổ chức thuộc diện được đảm bảo tài chính, hướng dẫn để các cơ quan, tổ chức đó thực hiện việc bảo đảm tài chính để thi hành án, giảm các vụ việc thi hành án tồn đọng, chưa thi hành xong./.
Ban Nghiệp vụ Thi hành án hành chính và Thừa hành viên