Những điểm mới trong Luật THADS năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định chung về áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
06/07/2026
1. Về tên các biện pháp cưỡng chế thi hành án và vấn đề thiết kế kỹ thuật các điều luật
Thứ nhất, Luật THADS 2025 đã nhấn mạnh người phải thi hành án bị áp dụng một hoặc một số biện pháp cưỡng chế thi hành án, để khẳng định người phải thi hành án có thể bị áp dụng đồng thời nhiều biện pháp cưỡng chế thi hành án. Đồng thời cơ bản giữ tên 6 biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật 2008 nhưng có chỉnh lý về kỹ thuật cho phù hợp, bao gồm:
- Khấu trừ tiền trong tài khoản, thu tiền, xử lý giấy tờ có giá;
- Trừ vào thu nhập;
- Khai thác tài sản;
- Kê biên, xử lý tài sản, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ;
- Giao tài sản, vật, giấy tờ;
-. Buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
Thứ hai, quá trình xây dựng Luật THADS 2025, cơ quan chủ trì soạn thảo đã rà soát toàn bộ các quy định hiện hành về cưỡng chế thi hành án, đặc biệt là biện pháp kê biên tài sản để đưa các nội dung có cùng tính chất, phạm vi, đang được đặt rải rác ở các Điều khác nhau vào từng Điều luật, gắn với từng thủ tục cụ thể, đảm bảo rõ ràng, khoa học, dễ áp dụng.
Theo đó, có 02 Điều quy định chung về biện pháp cưỡng chế (Điều 71 về các biện pháp cưỡng chế thi hành án và Điều 72 về áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án). Đối với các biện pháp cưỡng chế khác thì mỗi biện pháp cưỡng chế được thiết kế ở 1 Điều. Riêng biện pháp kê biên, xử lý tài sản là một biện pháp quan trọng, được áp dụng phổ biến với thủ tục chặt chẽ nên được quy định tại nhiều Điều (từ Điều 78 đến Điều 87), bao gồm: Quyết định kê biên; tài sản không được kê biên; thực hiện kê biên; xử lý tài sản sau khi kê biên; thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên; bán tài sản kê biên; tạm dừng, dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá tài sản thi hành án; hủy kết quả đấu giá tài sản; giao tài sản để thi hành án; đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
2. Thời điểm có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
Kế thừa các quy định tại Điều 45, 46 Luật 2008, Luật THADS năm 2025 quy định: Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.
Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này.
3. Phạm vi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
Thứ nhất, Luật hóa một phần quy định tại đoạn 3 khoản 1 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, khoản 3 Điều 72 Luật THADS 2025 quy định việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí thi hành án theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp sau đây:
a) Tài sản không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản.
Hướng dẫn chi tiết điểm này, tại khoản 9 Điều 42 Nghị định số 152/2026/NĐ-CP quy định: Trường hợp tài sản không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản quy định tại điểm a khoản 3 Điều 72 của Luật Thi hành án dân sự là trường hợp tài sản duy nhất của người phải thi hành án lớn hơn hoặc lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ thi hành án và các chi phí thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản.
b) Tài sản đã được bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án. Đây là trường hợp mới bổ sung so với quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Vì ngoài tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án, nếu bản án, quyết định tuyên kê biên tài sản để bảo đảm thi hành án thì cơ quan THADS vẫn xử lý toàn bộ tài sản theo bản án mà không bị giới hạn bởi điều kiện “tương ứng”.
c) Tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án;
d) Người phải thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án và các chi phí liên quan;
đ) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Hiện nay trong Nghị định số 152/2026/NĐ-CP đang không có quy định cụ thể về trường hợp khác là trường hợp nào. Đây là quy định “mở” có tính chất dự phòng, nếu theo quy định của pháp luật khác có liên quan quy định thì cơ quan THADS có thể áp dụng quy định của pháp luật khác, hoặc nếu có tình huống nào đó xảy ra trên thực tế thì quy định này cũng là cơ sở để Bộ Tư pháp sẽ tham mưu đưa vào Nghị định, Thông tư…
Thứ hai, để phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và pháp luật khác có liên quan, Chấp hành viên không áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản đang bị thu giữ, xử lý theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng hoặc đang bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật và thực hiện như sau:
a) Trường hợp tài sản để thi hành án đang bị thu giữ, xử lý theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng thì cơ quan thi hành án dân sự có văn bản thông báo cho tổ chức tín dụng về nghĩa vụ của người phải thi hành án. Tổ chức tín dụng đang thu giữ, xử lý tài sản có trách nhiệm thông báo kết quả xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự, chuyển số tiền còn lại (nếu có) cho cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn 24 giờ kể từ khi xử lý tài sản;
b) Trường hợp tài sản đang bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thì cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo cho cơ quan đã ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế biết về nghĩa vụ của người phải thi hành án để phối hợp xử lý.
4. Về đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
Thứ nhất, về nguyên tắc, tài sản của người phải thi hành án sẽ là đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án. Một lưu ý rất quan trọng về điểm mới của Luật THADS 2025, đó là Luật THADS 2025 đã quy định rõ người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành, bao gồm cả người có tài sản bảo đảm trong phạm vi nghĩa vụ mà họ bảo đảm. Nếu như theo Luật 2008, còn có nhiều quan điểm khác nhau về tư cách của người có tài sản bảo đảm thì Luật THADS 2025 đã khẳng định họ là người phải thi hành án trong phạm vi nghĩa vụ mà họ bảo đảm.
Tuy nhiên, có những trường hợp người phải thi hành án là pháp nhân, tổ chức đặc biệt thì cơ quan THADS lại phải căn cứ vào các quy định của pháp luật chuyên ngành để xác định tài sản nào là tài sản của người phải thi hành án để bị áp dụng biện pháp cưỡng chế. Để thống nhất cho các Chấp hành viên trong việc xác định, Nghị định số 152/2026/NĐ-CP đã quy định rất cụ thể đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với trường hợp người phải thi hành án là các đối tượng đặc thù, cụ thể:
- Trường hợp hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của các thành viên trong hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác trong trường hợp tài sản chung không đủ để thi hành án, trừ trường hợp hợp đồng hợp tác hoặc pháp luật có liên quan quy định khác.
- Trường hợp doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã và hợp tác xã là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã đó. Trường hợp doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh.
- Trường hợp cộng đồng dân cư là người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản chung của cộng đồng dân cư.
Đây cũng là nguyên tắc đang được áp dụng tại Nghị định số 296/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Thứ hai, Luật THADS 2025 đã quy định rõ ràng hơn về một số trường hợp những người “không phải người phải thi hành án” nhưng vẫn có thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, cụ thể:
- Đoạn 2 khoản 2 Điều 4 Luật THADS 2025 quy định: Người có hành vi cản trở việc tổ chức thi hành án; người đang quản lý, chiếm hữu, sử dụng tài sản thi hành án; người đang trông giữ người được giao cho người khác nuôi dưỡng nếu không thực hiện theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự thì có thể bị cưỡng chế theo quy định của Luật này.
- Khoản 8 Điều 25 Luật THADS 2025 quy định Chấp hành viên có nhiệm vụ, quyền hạn: Áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật này để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật hoặc để thu phí thi hành án và các khoản phải nộp khác.
- Khoản 1 Điều 42 Nghị định số 152/2026/NĐ-CP quy định: Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; quyết định xử lý tài sản ủy thác; nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án, người khác thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 và khoản 8 Điều 25 của Luật Thi hành án dân sự; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế để lựa chọn áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp.
Thực tế, việc tổ chức cưỡng chế đối với “Người có hành vi cản trở việc tổ chức thi hành án; người đang quản lý, chiếm hữu, sử dụng tài sản thi hành án; người đang trông giữ người được giao cho người khác nuôi dưỡng”, hiện nay cơ quan THADS vẫn đang thực hiện. Tuy nhiên đối với việc áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với người được thi hành án đã được chi trả không đúng quy định, hoặc để thu phí thi hành án vẫn là một vướng mắc của cơ quan THADS hiện nay. Mặc dù Luật THADS năm 2025 và Nghị định số 152/2026/NĐ-CP đã có quy định làm cơ sở để thực hiện, nhưng do gần như chưa áp dụng trên thực tiễn nên tùy từng trường hợp cụ thể, trước khi áp dụng, các cơ quan THADS cần trao đổi, thống nhất với liên ngành tại địa phương hoặc báo cáo xin hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ để đảm bảo việc cưỡng chế đúng pháp luật.
Thứ ba, do việc thi hành án đối với các đối tượng được bảo đảm tài chính sẽ được thực hiện theo chế độ bảo đảm tài chính nên Nghị định số 152/2026/NĐ-CP đã quy định rõ Chấp hành viên không áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của người phải thi hành án là đối tượng được bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án quy định.
5. Tổ chức cưỡng chế
Luật THADS 2025 quy định Chấp hành viên tổ chức cưỡng chế thi hành án khi có quyết định cưỡng chế thi hành án hoặc bản án, quyết định đã tuyên kê biên tài sản. Như vậy, không phải tất cả các trường hợp Chấp hành viên đều phải ra quyết định cưỡng chế thi hành án mà đối với trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên kê biên tài sản hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 78) thì Chấp hành viên sẽ không ra quyết định cưỡng chế mà trực tiếp căn cứ vào bản án, quyết định để tổ chức cưỡng chế.
Đây không phải là quy định mới mà chỉ là làm rõ hơn quy định tại khoản 3 Điều 70 Luật 2008: “Căn cứ để cưỡng chế thi hành án bao gồm:…3. Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án.” Tuy nhiên, điểm khác biệt ở đây là Luật THADS 2025 quy định trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án thì có những trường hợp cơ quan THADS sẽ vẫn ra quyết định cưỡng chế thi hành án mà không thực hiện trực tiếp quyết định của Tòa (nội dung này sẽ được phân tích ở Chuyên đề về thi hành án trong một số trường hợp cụ thể). Đồng thời nếu Tòa án mới phong tỏa tài sản, tài khoản thì cơ quan THADS không thể căn cứ vào quyết định của Tòa để cưỡng chế vì trong THADS, phong tỏa tài sản, tài khoản chỉ là biện pháp bảo đảm thi hành án, nên trong trường hợp này Chấp hành viên vẫn phải ra quyết định cưỡng chế thi hành án.
Một nội dung Luật THADS 2025 kế thừa quy định tại khoản 2 Điều 46 Luật 2008, đó là: Không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định. Kế thừa quy định tại Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, khoản 2 Điều 42 Nghị định số 152/2026/NĐ-CP cũng quy định: Ngoài những trường hợp không tổ chức cưỡng chế thi hành án do Luật Thi hành án dân sự quy định, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương.
6. Việc xây dựng kế hoạch cưỡng chế, kế hoạch bảo vệ cưỡng chế trong trường hợp cưỡng chế có huy động lực lượng
Kế thừa quy định tại Điều 72 Luật 2008 và Luật hóa một số quy định tại Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA của Bộ Tư pháp, Bộ Công an quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự, tại khoản 6 Điều 72 Luật THADS 2025 và Nghị định số 152/2026/NĐ-CP[1] đã quy định trường hợp cưỡng chế cần huy động lực lượng thì thực hiện như sau:
- Chấp hành viên lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án. Kế hoạch cưỡng chế phải có tên người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế; biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; thời gian, địa điểm cưỡng chế; phương án tiến hành cưỡng chế; yêu cầu về lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế; dự trù chi phí cưỡng chế và các nội dung khác theo quy định của pháp luật.
- Trước khi ban hành kế hoạch cưỡng chế thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự có văn bản gửi cơ quan công an cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế để thống nhất các nội dung, yêu cầu của việc cưỡng chế.
- Văn bản trao đổi bao gồm các nội dung chính sau đây: a) Họ tên và địa chỉ của người bị cưỡng chế; b) Điều kiện, kết quả thi hành án của người bị cưỡng chế; c) Dự kiến thời gian, địa điểm tiến hành cưỡng chế, biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; d) Tóm tắt nội dung vụ việc cần cưỡng chế; tính chất phức tạp của vụ việc (đặc điểm địa bàn, tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, diễn biến tâm lý, thái độ, khả năng chống đối của người bị cưỡng chế và gia đình người bị cưỡng chế và các nội dung khác có liên quan); đ) Yêu cầu cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự về các nội dung cần phối hợp; dự kiến số lượng người cần tham gia bảo vệ cưỡng chế; các trang thiết bị, công cụ, phương tiện cần thiết để phục vụ cho việc bảo vệ cưỡng chế và dự trù kinh phí chi cho việc bảo vệ cưỡng chế.
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trao đổi, thủ trưởng cơ quan công an cấp xã phải trả lời về các nội dung đề nghị phối hợp bảo vệ cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp vụ việc có tính chất phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương hoặc liên quan đến nhiều địa bàn cấp xã thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan thi hành án dân sự, Thủ trưởng cơ quan công an cấp xã báo cáo cơ quan công an cấp tỉnh để chỉ đạo. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của công an cấp xã, công an cấp tỉnh phải có văn bản trả lời và cho ý kiến về nội dung đề nghị phối hợp bảo vệ cưỡng chế. Công an cấp tỉnh chỉ đạo việc bảo vệ cưỡng chế của công an cấp xã.
- Trường hợp cơ quan công an có ý kiến khác về nội dung, yêu cầu của việc cưỡng chế thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh; Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu báo cáo Tư lệnh quân khu và tương đương xem xét quyết định và chỉ đạo việc cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thống nhất ý kiến với cơ quan công an hoặc có ý kiến chỉ đạo của Trưởng Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc của Tư lệnh quân khu và tương đương thì Chấp hành viên phải dự thảo xong kế hoạch cưỡng chế trình Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét, phê duyệt.
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự, công an cấp xã phải xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế. Việc xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an.
Kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng chế đã được phê duyệt phải gửi cho cơ quan thi hành án dân sự trước khi tiến hành cưỡng chế 05 ngày làm việc; đồng thời gửi cho cơ quan, tổ chức khác có liên quan để kịp thời triển khai, thực hiện các nhiệm vụ được phân công.
Nghị định số 152/2026/NĐ-CP cũng đã quy định trình tự, thủ tục, trách nhiệm của các cơ quan trong việc phối hợp thực hiện cưỡng chế và phối hợp giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình bảo vệ cưỡng chế.
7. Xử lý trong trường hợp người được thi hành án không cung cấp các giấy tờ về quyền sở hữu tài sản theo yêu cầu của cơ quan THADS
Xuất phát từ nguyên lý việc thi hành án theo yêu cầu của người được thi hành án thì họ phải có trách nhiệm phối hợp với cơ quan THADS trong quá trình tổ chức thi hành án. Đồng thời, tại điểm b khoản 2 Điều 6 Luật THADS 2025 cũng đã quy định người được thi hành án có nghĩa vụ “Thực hiện các quyết định, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên trong thi hành án; cung cấp số định danh, số tài khoản ngân hàng hoặc phương tiện thanh toán khác theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên”. Do đó, khoản 8 Điều 42 Nghị định số 152/2026/NĐ-CP đã quy định: Trường hợp người được thi hành án là người yêu cầu thi hành án và đang quản lý, bảo quản, lưu giữ, nắm giữ giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thì trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế, Chấp hành viên yêu cầu người đó giao nộp giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự. Sau khi đã yêu cầu ít nhất 02 lần mà người đó không thực hiện thì Chấp hành viên không xử lý tài sản và thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định này.
Trường hợp người được thi hành án đó giao nộp giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 11 Nghị định này (hướng dẫn họ yêu cầu thi hành án trở lại và ra quyết định thi hành án theo quy định).
Đây là quy định thể hiện chế tài, tính nghiêm minh của pháp luật trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Luật./.
Hoàng Thu Thủy – Phó Trưởng ban, Ban KNTC (Theo Cổng Thông tin điện tử Cục Quản lý THADS - Bộ Tư pháp)