Quy định mới về áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án của Luật Thi hành án dân sự 2025 và Nghị định số 152/2026/NĐ-CP
06/07/2026
1. Các quy định chung về biện pháp bảo đảm thi hành án (Điều 66)
Luật THADS năm 2025 cơ bản giữ nguyên nguyên tắc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án của Luật THADS năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung) (sau đây gọi là Luật 2008), theo đó: người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo đảm “có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án” và quy định “người yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Ngoài ra, Luật THADS năm 2025 đã sửa đổi, bổ sung một số quy định chung liên quan đến biện pháp bảo đảm thi hành án, cụ thể:
Thứ nhất, sửa đổi tên biện pháp bảo đảm “Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản” thành biện pháp “Tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản” để làm rõ hơn nội hàm của biện pháp.
Thứ hai, bổ sung biện pháp bảo đảm thi hành án “tạm hoãn xuất cảnh”. Có thể nói, tạm hoãn xuất cảnh đối với người phải thi hành án không phải là một quy định mới. Hiện nay cơ quan THADS vẫn đang căn cứ Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Namvà uật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam để áp dụng. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên biện pháp này chính thức được đưa vào Luật THADS và được coi là một trong 04 biện pháp bảo đảm thi hành án. Đồng thời, đây cũng là biện pháp bảo đảm thi hành án duy nhất thuộc thẩm quyền áp dụng của Thủ trưởng cơ quan THADS. Theo quy định của Luật 2008 thì việc áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế sẽ do Chấp hành viên áp dụng. Tuy nhiên, riêng đối với biện pháp bảo đảm tạm hoãn xuất cảnh này thì sẽ do Thủ trưởng cơ quan THADS tự mình áp dụng hoặc áp dụng theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự.
Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định về việc chuyển từ biện pháp bảo đảm sang biện pháp cưỡng chế thi hành án. Đây không phải quy định mới mà được kế thừa từ các quy định tại khoản 3 Điều 67, khoản 5 Điều 68 và khoản 4 Điều 69 Luật 2008. Theo đó, thống nhất quy định về thời điểm chuyển từ áp dụng biện pháp bảo đảm sang biện pháp cưỡng chế: Sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có đủ căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật này. Quy định này vừa đảm bảo sự thống nhất của các biện pháp, vừa khắc phục một số hạn chế của các quy định của Luật THADS 2008, như: Khoản 3 Điều 67 Luật 2008 quy định “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phong toả tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa theo quy định của Luật này”. Như vậy, Luật 2008 đã “chốt cứng” thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định thì Chấp hành viên phải lựa chọn: áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa. Trên thực tế, có trường hợp trong khoảng thời gian này có người khác tranh chấp hoặc có căn cứ cho rằng số tiền, tài sản bị phong tỏa không phải là tiền, tài sản của người phải thi hành án và cơ quan THADS phải xác minh, làm rõ thì việc quy định Chấp hành viên chỉ có quyền lựa chọn “cưỡng chế” hoặc “chấm dứt phong tỏa” mà không có lựa chọn khác sẽ gây khó khăn cho Chấp hành viên.
Thứ tư, một trong những điểm mới đáng lưu ý của Luật THADS 2025 đó là đã bỏ quy định về “việc áp dụng biện pháp bảo đảm phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí thi hành án” như quy định tại Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Vì biện pháp bảo đảm thi hành án chưa tác động và làm thay đổi quyền sở hữu tài sản của người phải thi hành án mà mới chỉ “giới hạn” quyền đó nên không bắt buộc điều kiện phải tương ứng, vì trên thực tế khi áp dụng biện pháp bảo đảm, Chấp hành viên gần như ít có cơ sở để có thể xác định được thế nào là “tương ứng”. Bên cạnh đó, từ thời điểm cơ quan THADS áp dụng biện pháp bảo đảm đến thời điểm cưỡng chế có thể là một khoảng thời gian rất dài, nên nếu bắt tương ứng từ giai đoạn này thì có thể sẽ dẫn đến việc người phải thi hành án tẩu tán các tài sản còn lại, dẫn đến khó khăn trong quá trình tổ chức thi hành án.
Tuy nhiên, cần rất lưu ý là quy định “tương ứng” này sẽ vẫn được áp dụng đối với loại tài sản là “tiền trong tài khoản” khi áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản như sẽ phân tích tại mục 2.
2. Biện pháp phong tỏa tài khoản (Điều 67)
Thứ nhất, về điều kiện áp dụng
Kế thừa quy định của Luật 2008, Luật THADS 2025 quy định: Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có tài khoản, tài sản đang gửi giữ.
Một trong những điểm mới rõ nhất của Luật năm 2025 là biện pháp phong tỏa tài khoản không còn chỉ gắn với tiền trong tài khoản theo cách hiểu truyền thống, mà được mở rộng tới tiền, tài sản số và tài sản khác trong tài khoản.
Điều 46 Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 quy định: Tài sản số là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, được thể hiện dưới dạng dữ liệu số, được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi công nghệ số trên môi trường điện tử. Khái niệm “tài sản khác trong tài khoản” là một “khái niệm mở” để quy định cho các tài sản khác trong tài khoản như chứng khoán trong tài khoản chứng khoán theo quy định của Luật Chứng khoán, đồng thời đây cũng là quy định “có tính dự phòng” cho các loại tài sản khác trong tài khoản có thể xuất hiện trong tương lai. Ví dụ như hiện nay Chính phủ đang có chủ trương thành lập các sàn giao dịch vàng, biết đâu trong tương lai chúng ta sẽ không chỉ sở hữu vàng vật chất mà còn có cả các “tài khoản vàng” được công nhận thì đây sẽ là căn cứ pháp lý để cơ quan THADS có thể áp dụng biện pháp phong tỏa đối với loại tài khoản này.
Thứ hai, Luật THADS 2025 đã quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản hoặc quản lý tài sản ở nơi gửi giữ.
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản đang gửi giữ bao gồm Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, thành viên lưu ký, doanh nghiệp công nghệ số và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý tài khoản, tiền gửi và tài sản số, tài sản khác trong tài khoản của người phải thi hành án.
Luật 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành đang quy định theo hướng Quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ phải xác định rõ số tiền, tài sản bị phong tỏa. Như vậy, Chấp hành viên sẽ là người phải xác định số tiền, tài sản để thực hiện việc phong tỏa, nghĩa là trước khi ra quyết định, Chấp hành viên phải biết được trong tài khoản của người phải thi hành án có tiền hay không và có bao nhiêu tiền. Nhưng điều này là mâu thuẫn với tính chất của biện pháp bảo đảm thi hành án là có tính nhanh, khẩn cấp, ngay. Đa số các trường hợp, tại thời điểm ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, Chấp hành viên không biết rõ số tiền, tài sản trong tài khoản của người phải thi hành án có là bao nhiêu. Với công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, chỉ một tích tắc người phải thi hành án đã dễ dàng tẩu tán tiền trong tài khoản, nên nếu đợi Chấp hành viên đi xác minh, làm rõ số tiền trong tài khoản thì việc phong tỏa tài khoản sẽ không còn nhiều ý nghĩa nữa.
Do đó, Luật THADS 2005 đã xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản phải thực hiện phong tỏa tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản của người phải thi hành án, đồng thời, bổ sung quy định trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên dẫn đến đương sự tẩu tán tài sản thì bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Thứ ba, về phạm vi phong tỏa tiền, tài sản, Luật THADS 2025 và Nghị định số 152/2026/NĐ-CP ngày 13/5/2026 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật THADS (sau đây gọi là Nghị định số 152/2026/NĐ-CP) đã quy định rõ sau khi nhận được quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản phải thực hiện phong tỏa theo quy định sau đây:
- Trường hợp tại thời điểm phong tỏa mà số tiền, giá trị tài sản trong tài khoản bằng hoặc lớn hơn nghĩa vụ phải thi hành án và chi phí thi hành án thì phong tỏa số tiền, phần tài sản tương ứng với nghĩa vụ thi hành án và chi phí thi hành án ngay sau khi nhận được quyết định phong tỏa tài khoản.
Do việc phong tỏa trong trường hợp này chỉ tương ứng với nghĩa vụ thi hành án và chi phí thi hành án nên Chấp hành viên cần rất lưu ý để phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản đang gửi giữ để xử lý các tình huống phát sinh. Vì có những tài sản giá trị thay đổi liên tục nên nếu thấy giá trị tài sản giảm quá lớn so với nghĩa vụ thì Chấp hành viên có thể trao đổi, thông tin cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản để thực hiện việc thay đổi số tài sản bị phong tỏa để đảm bảo việc thi hành án đạt hiệu quả.
- Trường hợp tại thời điểm phong tỏa mà số tiền, giá trị tài sản trong tài khoản nhỏ hơn nghĩa vụ phải thi hành án và chi phí thi hành án hoặc không xác định được giá trị tài sản trong tài khoản thì phong tỏa toàn bộ số tiền, tài sản trong tài khoản ngay sau khi nhận được quyết định phong tỏa tài khoản.
Theo quy định của Nghị định số 152/2026/NĐ-CP thì việc phong tỏa sẽ thực hiện với “số tiền, tài sản trong tài khoản”, chứ không phải phong tỏa toàn bộ “đầu vào” và “đầu ra” của tài khoản, do đó, Nghị định cũng đã quy định xử lý trường hợp phát sinh tiền, tài sản trong tài khoản thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản phải thực hiện phong tỏa tiếp số tiền, tài sản theo quy định tại khoản này;
- Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi thực hiện việc phong tỏa thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự về kết quả thực hiện.
Thứ tư, về nội dung và việc thông báo, gửi quyết định
Về nội dung của quyết định phong tỏa, Luật THADS năm 2025 và Nghị định số 152/2026/NĐ-CP quy định:
Quyết định phong tỏa tài khoản phải xác định rõ số tiền phải thi hành án và các chi phí thi hành án tính đến thời điểm có quyết định phong tỏa. Quyết định phong tỏa tài sản phải xác định rõ tài sản, nơi gửi giữ tài sản. Cần lưu ý đây là quy định có sửa đổi, bổ sung so với quy định hiện hành. Theo quy định của Luật 2008 thì quyết định phong tỏa tài khoản phải xác định rõ số tiền, tài sản bị phong tỏa. Nhưng theo quy định của Luật THADS năm 2025 thì trong quyết định phong tỏa tài khoản chỉ cần xác định rõ “số tiền phải thi hành án và chi phí thi hành án tính đến thời điểm có quyết định phong tỏa”.
Tuy nhiên, cần lưu ý riêng đối với quyết định phong tỏa chứng khoán thì có nội dung đặc thù hơn. Theo quy định tại Điều 57 Nghị định số 152/2026/NĐ-CP thì: Quyết định phong tỏa chứng khoán gồm những nội dung sau: nội dung yêu cầu phong tỏa chứng khoán; họ, tên, số định danh cá nhân hoặc số chứng minh nhân dân hoặc căn cước hoặc hộ chiếu đối với cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc giấy tờ pháp lý tương đương đối với pháp nhân; mã số giao dịch chứng khoán; số tiền phải thi hành án và các chi phí thi hành án tính đến thời điểm có quyết định phong tỏa; mã chứng khoán, số lượng chứng khoán đề nghị phong tỏa và số tài khoản chứng khoán (nếu có). Do đó, các Chấp hành viên cần rất lưu ý với nội dung của loại quyết định phong tỏa chứng khoán này.
Các quyết định này đều phải được thông báo ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản của người phải thi hành án. Việc thông báo này có thể được thực hiện thông qua các hình thức theo quy định của Nghị định số 152/2026/NĐ-CP (nội dung này sẽ được phân tích tại Chuyên đề về thông báo, gửi quyết định, văn bản về thi hành án).
Thứ năm, xử lý trong trường hợp cần phong tỏa ngay mà chưa kịp ra quyết định
Luật THADS năm 2025 cơ bản giữ nguyên quy định của Luật 2008 đối với trường hợp cần phong tỏa ngay tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ của người phải thi hành án mà chưa ban hành quyết định phong tỏa thì Chấp hành viên lập biên bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án phong tỏa tài khoản, tài sản đó. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản. Biên bản, quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản trong trường hợp này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.
Thứ sáu, Luật THADS 2025 và Nghị định số 152/2026/NĐ-CP đã bổ sung các trường hợp không thực hiện phong tỏa đối với các tài khoản, bao gồm: Quỹ ngân sách nhà nước các cấp; kinh phí ngân sách nhà nước (bao gồm cả kinh phí trên tài khoản tiền gửi dự toán, đầu tư; tiền gửi thu phí, lệ phí theo quy định tại Luật Phí, lệ phí) giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách, các chủ đầu tư, ban quản lý dự án; các khoản tạm thu, tạm giữ giao cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là một quy định hoàn toàn mới tại Nghị định số 152/2026/NĐ-CP, nên các cơ quan THADS cần rất lưu ý khi áp dụng.
3. Biện pháp tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản (Điều 68)
Thứ nhất, về điều kiện áp dụng: kế thừa quy định của Luật 2008, Luật THADS 2025 quy định Tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án, tài sản chung của người phải thi hành án với người khác được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn đương sự chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thực hiện các giao dịch về tài sản hoặc thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh việc thi hành án.
Thứ hai, về việc thông báo, gửi quyết định
Ngay khi ra quyết định tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để thi hành.
Thứ ba, Luật THADS 2025 quy định Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng và có quyền khởi kiện, yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản theo quy định tại Điều 39 của Luật này.
Quy định mới này đã chuyển từ trách nhiệm của Chấp hành viên “yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp” thành trách nhiệm của “đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp” các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng và có quyền khởi kiện, yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản. Vì thực tế, cơ quan THADS không thể biết được tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến tài sản đó để yêu cầu họ cung cấp.
Đồng thời, Luật THADS năm 2025 đã bỏ quy định: “Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản; yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản theo quy định của pháp luật”. Vì việc xác minh, làm rõ chủ sở hữu, sử dụng tài sản và giải quyết các vấn đề có liên quan để xác định căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế là tác nghiệp bình thường của Chấp hành viên mà không cần có quy định riêng. Chấp hành viên sẽ áp dụng các quy định chung về xác minh điều kiện thi hành án (điều 37), xác định tài sản và xử lý tranh chấp tài sản của người phải thi hành án (điều 39) và các quy định có liên quan để thực hiện.
Thứ tư, Luật hóa quy định tại Điều 19 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, Luật THADS 2025 đã quy định: Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không được thực hiện việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng tài sản và các giao dịch khác đối với tài sản đó; gây hư hỏng, đánh tráo, làm mất, hủy hoại tài sản, thay đổi kết cấu, thay đổi hiện trạng tài sản cho đến khi nhận được quyết định khác của Chấp hành viên.
Trường hợp người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên dẫn đến tài sản bị chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thực hiện các giao dịch hoặc thay đổi hiện trạng thì bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
4. Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ (Điều 69)
Thứ nhất, về điều kiện áp dụng: kế thừa quy định của Luật 2008, Luật THADS 2025 quy định: Tạm giữ tài sản, giấy tờ được áp dụng trong trường hợp phát hiện tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án đang do đương sự, tổ chức, cá nhân khác quản lý, sử dụng nhằm ngăn chặn đương sự chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh việc thi hành án.
Thứ hai, nội dung và việc thông báo, gửi quyết định
Luật THADS 2025 quy định Quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải xác định rõ loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ. Chấp hành viên giao quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ cho đương sự hoặc tổ chức, cá nhân đang quản lý, sử dụng.
Thứ ba, xử lý trong trường hợp cần tạm giữ tài sản, giấy tờ ngay mà chưa kịp ra quyết định
Kế thừa các quy định của Luật 2008, Luật THADS 2025 quy định trường hợp cần tạm giữ ngay tài sản, giấy tờ mà chưa ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ thì Chấp hành viên yêu cầu giao tài sản, giấy tờ và lập biên bản về việc tạm giữ.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ. Biên bản, quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Thứ tư, tương tự như biện pháp tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản, Điều 69 Luật THADS 2025 chuyển từ trách nhiệm của Chấp hành viên “yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp” thành trách nhiệm của “Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng và có quyền khởi kiện, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ theo quy định tại Điều 39 của Luật này”.
Thứ năm, Luật THADS 2025 quy định rõ cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ, quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ phải giao nộp tài sản, giấy tờ theo yêu cầu của Chấp hành viên. Đồng thời, kế thừa quy định tại Điều 18 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, Luật cũng quy định trong trường hợp cần thiết, Chấp hành viên đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hỗ trợ việc tạm giữ tài sản, giấy tờ để thi hành án.
Ngoài ra, Nghị định số 152/2026/NĐ-CP cơ bản kế thừa các quy định tại Điều 18 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP và quy định tại khoản 3 Điều 68 Luật THADS về các thủ tục liên quan đến lập biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ và thủ tục trả tại tài sản, giấu tờ tạm giữ.
4. Biện pháp tạm hoãn xuất cảnh (Điều 70 Luật THADS 2025 và Điều 45 Nghị định)
Trên cơ sở các quy định của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Namvà uật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời kế thừa một số quy định tại Điều 51 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, Luật THADS 2025 quy định rõ người phải thi hành án chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án theo bản án, quyết định thì có thể bị tạm hoãn xuất cảnh, trừ các trường hợp:
a) Trường hợp người phải thi hành nghĩa vụ về tiền, tài sản mà có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đồng ý để cơ quan thi hành án dân sự giao, xử lý tài sản để thi hành án, đồng thời đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó.
Quy định này có tính nghiêm khắc hơn nhiều so với quy định tại Điều 51 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Vì theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì người phải thi hành án có thể không bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh trong trường hợp: “a) Có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó; việc ủy quyền phải có công chứng và không được hủy ngang.
Tuy nhiên, trên thực tế, tài sản, nghĩa vụ vẫn đang của người phải thi hành án (trong trường hợp ủy quyền) nên bên cạnh điều kiện là đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án thì cần có một sự khẳng định của người phải thi hành án về việc đồng ý để cơ quan THADS giao, xử lý tài sản để thi hành án
b) Nghĩa vụ thi hành án đã được chuyển giao theo quy định của Luật THADS;
Tương tự như điều kiện a), quy định này có tính nghiêm khắc hơn, đồng thời khắc phục bất cập của quy định tại Điều 51 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Vì theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì người phải thi hành án có thể không bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh trong trường hợp: b) Đã ủy quyền cho người khác mà người được ủy quyền có đủ tài sản và cam kết thi hành thay nghĩa vụ của người ủy quyền; việc ủy quyền phải có công chứng và không được hủy ngang”. Trên thực tế, “ủy quyền” khác hoàn toàn với việc “chuyển giao quyền, nghĩa vụ”. Việc để cho người phải thi hành án xuất cảnh và ủy quyền cho người khác có tài sản và cam kết thi hành thay nghĩa vụ không đồng nghĩa với việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ. Nên nếu có vấn đề phát sinh thì cơ quan THADS cũng không có căn cứ pháp lý để xử lý đối với tài sản của người nhận ủy quyền.
Do đó, người phải thi hành án chỉ được xuất cảnh trong trường hợp này nếu “Nghĩa vụ thi hành án đã được chuyển giao theo quy định của Luật THADS” mà không phải chỉ cần “ủy quyền cho người có đủ tài sản và cam kết thi hành thay” như quy định tại Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.
c) Khi người phải thi hành án bị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định dẫn độ theo quy định của Luật Dẫn độ.
Cùng thời điểm ban hành Luật THADS 2025, Quốc hội cũng đã thông qua Luật Dẫn độ 2025. Theo đó, Điều 7 Luật Dẫn độ quy định Các trường hợp có thể bị dẫn độ bao gồm:
“1. Người có thể bị dẫn độ là người có hành vi phạm tội mà pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài quy định hình phạt tù có thời hạn từ 01 năm trở lên, tù chung thân hoặc tử hình hoặc đã bị tòa án của nước yêu cầu dẫn độ xử phạt tù mà thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người đó còn lại ít nhất 06 tháng.
2. Hành vi phạm tội của người được quy định tại khoản 1 Điều này không nhất thiết phải thuộc cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh, các yếu tố cấu thành tội phạm không nhất thiết phải giống nhau hoàn toàn theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài.
3. Trường hợp nước ngoài yêu cầu dẫn độ liên quan đến người có nhiều hành vi phạm tội, trong đó mỗi hành vi cấu thành một tội phạm theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài và có ít nhất một hành vi đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 của Điều này thì Việt Nam có thể đồng ý dẫn độ người đó. Trường hợp Việt Nam là nước yêu cầu dẫn độ, Bộ Công an đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đồng ý dẫn độ với các trường hợp tương tự.
4. Trường hợp hành vi phạm tội của người được quy định tại khoản 1 Điều này xảy ra ngoài lãnh thổ của Việt Nam thì việc dẫn độ người đó có thể được thực hiện nếu pháp luật Việt Nam quy định hành vi đó là hành vi phạm tội.”.
d) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật theo quy định của Nghị định số 152/2026/NĐ-CP bao gồm:
- Có căn cứ không bị tạm hoãn xuất cảnh theo quy định của pháp luật về xuất nhập cảnh;
- Là người nước ngoài phạm tội ít nghiêm trọng đang bị bệnh hiểm nghèo hoặc không có tài sản, thu nhập tại Việt Nam, có đơn cam kết thực hiện nghĩa vụ sau khi về nước.
Đơn cam kết phải có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao tại Việt Nam của nước mà người đó có quốc tịch về việc đôn đốc người đó thực hiện nghĩa vụ thi hành khoản thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật Việt Nam;
- Có văn bản của cơ quan công an hoặc cơ quan đại diện ngoại giao đề nghị cho xuất cảnh trong trường hợp cá nhân là người phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đang bị bệnh hiểm nghèo hoặc không có tài sản, thu nhập tại Việt Nam nhưng không được người được thi hành án cho xuất cảnh hoặc không xác định được địa chỉ của người được thi hành án hoặc người được thi hành án là người nước ngoài đã về nước và các trường hợp đặc biệt khác./.
Hoàng Thu Thủy – Phó Trưởng ban, Ban KNTC (Theo Cổng Thông tin điện tử Cục Quản lý THADS - Bộ Tư pháp)