Chuyện nghề Thi hành án dân sự: Chấp hành viên khởi kiện lấy lại tài sản bị tẩu tán và những câu chuyện nghề cảm động
24/06/2026
Ngày Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, Chấp hành viên Phạm Hoàng Hưng (Phòng THADS Khu vực 12 - Cần Thơ) lặng người vài giây trước khi nở nụ cười nhẹ nhõm. Như vậy, tài sản cuối cùng để thi hành án (THA) đã được giữ lại để bảo vệ quyền lợi cho bên được THA


Ít ai biết rằng, để giữ lại tài sản này, chấp hành viên Phạm Hoàng Hưng đã lựa chọn hướng đi không dễ dàng: “Trực tiếp đại diện cơ quan THADS khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng tài sản mà bên phải THA cố tình tẩu tán nhằm trốn tránh nghĩa vụ”.
Kể về câu chuyện này, ông Hưng cho biết, đây là vụ việc tương đối phức tạp và kéo dài hàng chục năm. Theo bản án, ông này có nghĩa vụ trả cho bà kia hơn 140 triệu đồng. Khi bản án có hiệu lực, người phải THA chỉ còn duy nhất một tài sản đứng tên hộ gia đình. Tài sản này cơ quan THADS đã ra quyết định ngăn chặn chuyển dịch nhưng hộ gia đình ông này lại cố tình chuyển nhượng cho một người khác và đã được cấp “sổ đỏ”. Bên được THA có quyền yêu cầu tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng nhưng họ không thực hiện. Vì vậy, “để bảo đảm lợi ích hợp pháp cho đương sự, chấp hành viên đã yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng vì nếu mất tài sản này, cơ hội để bản án được thực thi gần như bằng không”, ông Hưng chia sẻ.
Theo ông Hưng, trước đây cũng có những vụ việc tương tự nhưng tòa án lại tuyên công nhận hợp đồng chuyển nhượng vì Tòa cho rằng người nhận chuyển nhượng là bên thứ ba ngay tình. Trong vụ này, quan điểm của Viện kiểm sát cho rằng, việc chuyển nhượng là trái quy định vì tài sản này cơ quan THADS đã ra quyết định ngăn chặn nhưng vẫn cố tình chuyển nhượng. “Điều này minh chứng cho tinh thần kiên quyết bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật và quyền lợi chính đáng của người dân”, ông Hưng nói.


Trong quá trình công tác, điều khiến ông Hưng “trăn trở” nhất là người được THA không nhận được quyền lợi của mình. Theo ông Hưng, người dân khi cầm trên tay bản án thắng kiện đều tin rằng khi bản án có hiệu lực thì quyền lợi của mình sẽ được bảo đảm. Tuy nhiên trên thực tế có nhiều vụ việc không có điều kiện thi hành và đáng nói hơn là nhiều trường hợp người phải THA tìm mọi cách tẩu tán tài sản, che giấu nguồn thu nhập. Mỗi lần như vậy đương sự thường trách móc đầy chua xót: “Biết vậy tôi đừng đi kiện còn hơn. Thắng kiện mà không lấy được tiền, tốn thời gian, tốn công sức”. “Nghe những câu nói như vậy buồn lắm. Khi cầm bản án trên tay, họ đặt niềm tin vào cơ quan THADS. Vì vậy, mình luôn cố gắng làm hết trách nhiệm để bản án được thực thi trong thực tế”, ông Hưng chia sẻ. Chính suy nghĩ đó đã thôi thúc ông Hưng kiên quyết ngăn chặn mọi hành vi tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ THA.

Trước đây, có vụ án hình sự, tòa buộc một cặp vợ chồng cấp dưỡng cho con của bị hại với số tiền 575.000 đồng/tháng. Những năm đầu, họ thực hiện đầy đủ nhưng khoảng 2-3 năm gần đây lại “chây ì” dù vẫn có điều kiện kinh tế và sở hữu nhiều tài sản. Lúc đó, cơ quan THADS đã thực hiện các biện pháp ngăn chặn việc chuyển dịch tài sản nhưng họ vẫn kiên quyết không chấp hành. Gần đây, khi hai người này làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho con, cơ quan THADS đã phối hợp với các đơn vị liên quan ngăn chặn kịp thời và buộc thực hiện nghĩa vụ theo quy định.

Tuy nhiên, theo ông Hưng không phải vụ việc nào cũng có thể ngăn chặn kịp thời. Ông Hưng vẫn còn day dứt khi nhắc đến vụ vỡ hụi hơn 30 tỷ đồng xảy ra nhiều năm trước. Chủ hụi đã chuyển dịch, tẩu tán phần lớn tài sản từ trước khi tuyên bố vỡ hụi vào năm 2018. Khi bản án có hiệu lực, hàng chục người bị hại, có người mất vài trăm triệu, vài tỷ đồng, thậm chí có người mất tới 21 tỷ đồng nhưng cơ quan THADS xác minh nhiều lần vẫn không còn tài sản để thi hành, trong khi người phải THA đang chấp hành án phạt tù.
Điều khiến ông Hưng nặng lòng không phải là áp lực từ người dân mà là cảm giác bất lực khi đã cố gắng xác minh, truy tìm tài sản nhưng vẫn không còn điều kiện để thi hành. “Lúc nào chấp hành viên cũng mong muốn thu hồi được tài sản cho người dân. Mình hiểu phía sau mỗi khoản tiền là công sức lao động, là tài sản tích góp của cả gia đình nhưng có những trường hợp xác minh nhiều lần vẫn không còn gì để xử lý”, ông Hưng tâm sự.

Từ những vụ việc như vậy, ông Hưng càng thấm thía ý nghĩa của việc ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản ngay từ đầu. Nếu tài sản đã bị chuyển dịch hết thì người được THA dù thắng kiện cũng rất khó bảo đảm được quyền lợi của mình.
Ngay cả với những trường hợp chưa có điều kiện THA, ông vẫn cố gắng vận động đương sự tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trong khả năng có thể. Ông kể về một trường hợp nợ gần 1 tỷ đồng, dù không có tài sản để xử lý nhưng sau nhiều lần vận động, người phải THA đã đồng ý trả dần mỗi tháng vài triệu đồng cho các chủ nợ. “Số tiền không lớn nhưng ít nhất người được THA vẫn còn hy vọng. Còn đối với chấp hành viên, khi đương sự tự nguyện thực hiện dù chỉ một phần nghĩa vụ, mình cũng cảm thấy đã làm tròn trách nhiệm với bản án mà mình được giao tổ chức thi hành”, ông Hưng chia sẻ.


Khi được hỏi đâu là vụ việc khiến ông nhớ nhất, ông Hưng không nhắc đến những vụ án có giá trị tài sản lớn hay những cuộc cưỡng chế phức tạp mà là một vụ việc giao con diễn ra cách đây gần 10 năm, khi ông mới vào ngành chưa lâu. Cha mẹ cháu bé ly thân. Mẹ bỏ đi, đứa trẻ được cha trực tiếp nuôi dưỡng. Sau đó, người mẹ trở về yêu cầu ly hôn và giành quyền nuôi con. Theo quy định pháp luật, do cháu bé chưa đủ 36 tháng tuổi nên Tòa án giao cho mẹ nuôi dưỡng. Bản án đã có hiệu lực nhưng việc tổ chức thi hành lại vô cùng khó khăn. Nhiều lần được vận động, thuyết phục nhưng người cha vẫn kiên quyết không giao con. Ông Hưng kể rằng, điều khiến ông “day dứt” nhất không phải là sự chống đối của người cha, mà là ông hiểu rất rõ nguyên nhân của sự chống đối ấy.

Sau nhiều lần vận động không thành, cơ quan THADS buộc phải lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính đối với người cha. Theo quy định, nếu tiếp tục chống đối sẽ bị xem xét xử lý hình sự. Đến nay, ông Hưng vẫn nhớ rõ cảm giác khi ký vào biên bản xử phạt ngày hôm đó. “Về mặt pháp luật, tôi buộc phải làm. Nhưng trong lòng thực sự rất nặng. Tôi hiểu rằng sau biên bản này, vụ việc có thể chuyển sang một hướng khác. Người cha có thể phải đối mặt với trách nhiệm hình sự chỉ vì không muốn xa con”. Và lòng ông Hưng luôn trăn trở: “Nếu cưỡng chế giao con thì sao? Người cha sẽ ra sao nếu bị xử lý hình sự? Liệu ký ức về một cuộc cưỡng chế có trở thành vết thương tâm lý cho đứa trẻ khi trưởng thành? Một căn nhà hay một thửa đất có thể dễ dàng cưỡng chế nhưng một đứa trẻ thì không. Các cháu có cảm xúc, có nhận thức và rất dễ bị tổn thương. Nếu không khéo, hậu quả tâm lý sẽ rất nghiêm trọng”, ông Hưng kể và giọng trầm xuống.
Trước hoàn cảnh đó, ông Hưng và chấp hành viên đã quyết định thông qua chính quyền địa phương tìm hiểu các mối quan hệ thân thuộc của người cha và nhờ người tin tưởng nhất để thuyết phục. Cuối cùng, người cha đồng ý. Ngày thực hiện việc giao con, cả gia đình nội ngoại đều có mặt. “Trong khung cảnh đó, tiếng khóc vang lên nghẹn ngào. Đứa trẻ khóc, người cha khóc, nhiều người chứng kiến không cầm được nước mắt trước khoảnh khắc chia tay đầy xót xa của hai cha con. Tôi cũng rưng rưng. Nhìn người cha ôm con lần cuối trước khi giao cho mẹ, tôi thấy nghẹn lòng. Nhưng phía sau những giọt nước mắt ấy là sự nhẹ nhõm vì cuối cùng bản án đã được thực hiện bằng sự đồng thuận”, ông Hưng kể trong xúc động.

Gần một thập kỷ đã trôi qua, nhưng ký ức về những giọt nước mắt trong ngày giao con ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí ông Hưng. Niềm vui lớn nhất không phải là hoàn thành một hồ sơ THA mà là tránh được những hệ lụy có thể xảy ra phía sau. “Khi giao được con, tôi cảm thấy như trút bỏ được một gánh nặng. Đó là lần đầu tiên tôi cảm nhận rõ, người cán bộ THADS không chỉ thi hành một bản án mà còn phải tìm cách để pháp luật được thực thi theo hướng nhân văn nhất có thể. Đằng sau mỗi bản án không chỉ là quyền và nghĩa vụ pháp lý mà còn là số phận con người, là những cảm xúc, những mối quan hệ và những giá trị cần được nâng niu, gìn giữ bằng cả trách nhiệm và sự thấu cảm của người thực thi pháp luật”.

Trong câu chuyện về nghề, ông Hưng nhiều lần nhắc đến một nguyên tắc mà ông luôn tâm niệm: “Cưỡng chế không phải là mục đích cuối cùng của công tác THADS. Nếu chỉ biết cưỡng chế thì dễ. Điều khó nhất là làm sao để người dân hiểu, đồng thuận và tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình”. Ông vẫn nhớ như in một vụ việc tranh chấp đất đai giữa hai dì cháu. Theo ông Hưng, nhiều năm trước, người dì giao cho cháu quản lý phần đất hương hỏa nhưng lại chiếm giữ không trả lại nên người dì khởi kiện ra Tòa. Bản án buộc người cháu phải giao trả đất và tài sản trên đất cho người dì. Thế nhưng, người phải THA không hợp tác. Theo đó, cơ quan THADS buộc phải ban hành quyết định cưỡng chế. Mọi công tác chuẩn bị đã xong. Nhà kho chứa tài sản được thuê trước, phương tiện vận chuyển được bố trí đầy đủ. Đến ngày thực hiện cưỡng chế, gần 100 cán bộ thuộc các ngành đã có mặt tại hiện trường để bảo đảm an ninh, trật tự và hỗ trợ thi hành án.

“Tưởng như không còn con đường nào khác ngoài cưỡng chế”, ông Hưng nhớ lại. Nhưng ngay trước thời điểm thực hiện, ông vẫn quyết định tiếp tục vận động. Sau nhiều giờ trao đổi căng thẳng, các bên thống nhất phương án hỗ trợ một phần chi phí để người cháu tự nguyện di dời tài sản, bàn giao đất theo bản án. Cuối cùng, cuộc cưỡng chế được hủy bỏ vào phút chót. “Đó là phút bù giờ của công tác dân vận”, ông Hưng cười. Theo ông, điều đáng mừng là tránh được một cuộc cưỡng chế có thể làm mâu thuẫn gia đình thêm sâu sắc.

Nhìn lại hơn một thập kỷ gắn bó với nghề, điều ông mong muốn nhất là mọi bản án đã tuyên đều được thực thi. Bởi theo ông, công lý chỉ thực sự trọn vẹn khi quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được bảo vệ trên thực tế. Đội ngũ chấp hành viên đang ngày ngày âm thầm tìm cách để mỗi bản án không chỉ “nằm trên giấy” và với ông Phạm Hoàng Hưng đó cũng chính là ý nghĩa lớn nhất của nghề mà ông đã chọn.
Nguồn tin: Hoài Thương - Hà Vy
https://baophapluat.vn/chap-hanh-vien-khoi-kien-lay-lai-tai-san-bi-tau-tan-va-nhung-cau-chuyen-nghe-cam-dong.html