Quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2025 về khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự (phần I)
10/05/2026
Luật Thi hành án dân sự
Ngày 02/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá XV đã thông Luật số 106/2025/QH15 (Luật Thi hành án dân sự năm 2025) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 (trừ các điều khoản về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong thi hành án dân sự có hiệu lực từ ngày 20/01/2026) với nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thi hành án dân sự, khắc phục những bất cập của pháp luật hiện hành, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác thi hành án dân sự. Trong các nội dung mới của Luật Thi hành án dân sự năm 2025, có các nội dung về khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự.
1. Về khiếu nại trong thi hành án dân sự
Khiếu nại là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình (khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại).
Khoản 1 Điều 96 Luật THADS năm 2025: Đương sự có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên về thi hành án dân sự nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan quy định tại khoản 4 Điều 3 của Luật này có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên về thi hành án dân sự nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Quy định về đương sự (bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án) và quy định về người được thi hành án (là cơ quan, tổ chức, cá nhân được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành) của Luật THADS năm 2025 cơ bản như quy định của Luật THADS năm 2008. Quy định về người phải thi hành án (là cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành, bao gồm cả người có tài sản bảo đảm trong phạm vi nghĩa vụ mà họ bảo đảm) của Luật THADS năm 2025 đã cụ thể hơn quy định của Luật THADS năm 2008 (người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành). Quy định về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (là cơ quan, tổ chức, cá nhân mà trong quá trình tổ chức thi hành án phát sinh quyền, nghĩa vụ của họ) của Luật THADS năm 2025 có nội dung khác với quy định của Luật THADS năm 2008 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự). Chúng ta cần làm rõ quy định của Luật THADS năm 2025 qua ví dụ sau đây: Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 1234/2026/HNGĐ-PT ngày 04/5/2026 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử về chia tài sản của vợ chồng sau ly hôn: Ông Trần Văn A và bà Nguyễn Thị B có tài sản chung là căn nhà đất tại phường An Hội Đông, Thành phố Hồ Chí Minh và căn nhà đất tại phường Khương Đình, thành phố Hà Nội, 02 căn nhà đất trên có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên ông Trần Văn A và bà Nguyễn Thị B. Ông Trần Văn A và bà Nguyễn Thị B đang cư trú tại căn nhà đất tại phường An Hội Đông, Thành phố Hồ Chí Minh, còn căn nhà đất tại phường Khương Đình, thành phố Hà Nội đang do chị Trần Thị C quản lý, sử dụng (chị Trần Thị C là con gái ông Trần Văn A và bà Nguyễn Thị B, đang học đại học tại Hà Nội); bản án tuyên giao ông Trần Văn A sở hữu căn nhà đất tại phường Khương Đình, thành phố Hà Nội, giao bà Nguyễn Thị B sở hữu căn nhà đất tại phường An Hội Đông, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Trần Văn A, bà Nguyễn Thị B được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy tờ sở hữu mang tên mình. Ngày 06/5/2026, ông Trần Văn A làm đơn yêu cầu thi hành án, căn cứ quy định tại điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số diều của Luật THADS (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ (4. Cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án đối với bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự trong trường hợp bản án, quyết định không xác định rõ khoản phải thi hành hoặc không xác định rõ người phải thi hành án, trừ các trường hợp: a) Giao quyền sở hữu, sử dụng, quản lý tài sản mà tại thời điểm yêu cầu thi hành án, người được thi hành án không được trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản), THADS Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 98765/QĐ-THADS ngày 07/5/2026 có nội dung: Giao ông Trần Văn A sở hữu căn nhà đất tại phường Khương Đình, thành phố Hà Nội, ông Trần Văn A được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy tờ sở hữu mang tên mình. Như vậy trong vụ việc thi hành án trên, bà Nguyễn Thị B không phải là người phải thi hành án, cũng không phải là người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan; Chấp hành viên không phải thông báo Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 98765/QĐ-THADS, không phải thông báo các quyết định, văn bản về thi hành án khác liên quan đến vụ việc trên cho bà Nguyễn Thị B; bà Nguyễn Thị B không có quyền khiếu nại liên quan đến quá trình thi hành vụ việc trên.
Ngoài các chủ thể bị khiếu nại như Luật THADS năm 2008 (người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), Luật THADS năm 2025 quy định mở rộng chủ thể bị khiếu nại là Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên về thi hành án dân sự. Đây là các chủ thể lần đầu xuất hiện trong Luật THADS, thể hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động THADS của nước ta.
Về thời hiệu khiếu nại: Khoản 2 Điều 96 Luật THADS năm 2025 quy định: “2. Thời hiệu khiếu nại lần đầu về thi hành án dân sự thực hiện như sau:
a) Đối với quyết định, hành vi về thi hành án trước khi có quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là 15 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định hoặc biết được hành vi đó;
b) Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm là 10 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định hoặc biết được hành vi đó;
c) Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế và sau khi có quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định hoặc biết được hành vi đó”.
Quy định trên có sự thay đổi so với quy định về thời hiệu khiếu nại của Luật THADS năm 2008:
- Quy định chung về thời hiệu khiếu nại đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm là 10 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định hoặc biết được hành vi đó (Luật THADS năm 2008 quy định thời hiệu khiếu nại đối với quyết định áp dụng biện pháp phong toả tài khoản là 03 ngày, đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày), như vậy sẽ tăng thêm thời gian cho người khiếu nại có thể khiếu nại đối với biện pháp “Phong toả tài khoản” (cần lưu ý là Điều 66 Luật THADS năm 2025 bổ sung thêm biện pháp bảo đảm “Tạm hoãn xuất cảnh”).
- Quy định cụm từ “kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định” để bắt đầu tính thời hiệu khiếu nại của Luật THADS năm 2025, là sự thay đổi so với quy định của Luật THADS năm 2008 “kể từ ngày nhận được quyết định”. Luật THADS năm 2025 đã bổ sung hình thức thông báo “trên môi trường số”, chính vì vậy quy định về thời điểm được coi là thông báo hợp lệ đã có sự thay đổi, đó là ngày hoàn thành việc thông báo trên môi trường số (ngày gửi đến email, VNeID,… của người nhận), không phụ thuộc vào thời điểm người nhận đọc hay xem văn bản đó.
Về những trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết: Điều 97 Luật THADS năm 2025 đã kế thừa các quy định của Điều 141 Luật THADS năm 2008, đồng thời quy định rõ, bổ sung thêm một số trường hợp:
- Khoản 4 Điều 97 Luật THADS năm 2025 quy định trường hợp “Thời hiệu khiếu nại đã hết” đã được bổ sung để làm rõ hơn nội dung trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 96 của Luật này (trường hợp do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại trong thời hiệu thì thời gian có tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu khiếu nại).
- Khoản 6 Điều 97 Luật THADS năm 2025 quy định trường hợp: Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại là quyết định, hành vi trong nội bộ cơ quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ; quyết định hành chính, hành vi hành chính trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới; quyết định hành chính có chứa đựng các quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trong hoạt động THADS, có các loại văn bản, hành vi như xin hướng dẫn nghiệp vụ của cấp trên hoặc chỉ đạo nghiệp vụ đối với cấp dưới, thì không phải là đối tượng bị khiếu nại.
- Khoản 7 Điều 97 Luật THADS năm 2025 quy định trường hợp: Nội dung khiếu nại đã được giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo (đã có kết luận tố cáo hoặc văn bản không thụ lý tố cáo hoặc quyết định đình chỉ giải quyết tố cáo,…) hoặc trước đó đã có thông báo đình chỉ giải quyết khiếu nại theo quy định tại khoản 3 Điều 105 của Luật này. Đây là quy định mới nhằm hạn chế đương sự lợi dụng quyền khiếu nại để gây cản trở, kéo dài việc thi hành án.
Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại: Từ ngày 01/7/2025, cơ quan THADS cấp tỉnh và cơ quan THADS cấp huyện (hai cấp), được tổ chức lại thành cơ quan THADS tỉnh, thành phố (một cấp) có các Phòng THADS khu vực trực thuộc. Trên cơ sở đó, Luật THADS năm 2025 quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại có nhiều sự thay đổi so với Luật THADS năm 2008:
- Khoản 1 Điều 98 Luật THADS năm 2025 quy định: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình, của Phó Thủ trưởng và Chấp hành viên thuộc quyền quản lý (thẩm quyền này đã được áp dụng theo Công văn số 3769/BTP-TCTHADS ngày 25/6/2025 của Bộ Tư pháp từ thời điểm ngày 01/7/2025 khi tổ chức lại cơ quan THADS theo mô hình một cấp). Đây là sự thay đổi lớn so với Luật THADS năm 2008 khi quy định Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh (khi thực hiện nhiệm vụ với vai trò thay mặt Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh). Quy định thẩm quyền nêu trên của Luật THADS năm 2025 tạo thuận lợi cho người khiếu nại thực hiện quyền của mình khi họ có thể làm việc trực tiếp với người giải quyết khiếu nại mà không phải di chuyển xa, đồng thời giảm tải công việc cho Lãnh đạo Bộ Tư pháp (không phải giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp). Tuy nhiên, quy định Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố giải quyết khiếu nại lần đầu đối với tất cả khiếu nại, đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng tổ chức thi hành án, nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại lần đầu để giảm áp lực phải giải quyết khiếu nại lần hai của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
- Trưởng văn phòng thi hành án dân sự giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi về thi hành án dân sự của mình và của Thừa hành viên thuộc văn phòng (đoạn 2 khoản 1 Điều 98 Luật THADS năm 2025); Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định giải quyết khiếu nại chưa có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố và của Trưởng văn phòng thi hành án dân sự. Quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành ngay (khoản 2 Điều 98 Luật THADS năm 2025). Đây là các quy định thể chế hoá trong Luật THADS về chủ trương xã hội hoá hoạt động THADS và hoạt động của cơ quan THADS một cấp.
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp không còn phải giải quyết khiếu nại lần hai nên khoản 3 Điều 98 Luật THADS năm 2025 tập trung quy định rõ Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành (quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố và quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp) khi có một trong các căn cứ: Quyết định, hành vi bị khiếu nại là trái pháp luật nhưng quyết định giải quyết khiếu nại cho rằng quyết định, hành vi đó là đúng pháp luật; việc giải quyết khiếu nại có vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự; có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản kết quả giải quyết khiếu nại; có đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Thẩm quyền giải quyết khiếu của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng được quy định tương tự thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Các quy định về quyền của người khiếu nại quy định tại khoản 1 Điều 99 Luật THADS năm 2025 cơ bản kế thừa các quy định của Luật THADS năm 2008, nhưng có bổ sung, làm rõ thêm một số nội dung như ngoài việc người khiếu nại được nhờ luật sư giúp đỡ thì còn có thể nhờ trợ giúp viên pháp lý tư vấn về pháp luật trong quá trình khiếu nại; bên cạnh việc được nhận quyết định giải quyết khiếu nại thì còn được nhận văn bản thụ lý khiếu nại, thông báo tạm đình chỉ, thông báo đình chỉ; quy định rõ việc rút toàn bộ hoặc một phần nội dung khiếu nại tại bất cứ thời điểm nào trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại, việc rút khiếu nại được thực hiện bằng đơn rút khiếu nại hoặc biên bản ghi nhận ý kiến rút khiếu nại của người khiếu nại khi làm việc với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hoặc người xác minh nội dung khiếu nại.
Một nội dung cần lưu ý, Luật THADS năm 2025 vẫn giữ nguyên quy định người khiếu nại có thể tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại như quy định của Luật THADS năm 2008. Thủ tục uỷ quyền cho người đại diện khiếu nại hiện nay được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại, theo đó việc uỷ quyền phải bằng văn bản và được chứng thực hoặc công chứng. Người ủy quyền được ủy quyền khiếu nại cho một người hoặc nhiều người về các nội dung ủy quyền khác nhau nhưng không được ủy quyền một nội dung cho nhiều người thực hiện. Văn bản ủy quyền khiếu nại được thực hiện theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Nghị định này. Tuy nhiên, Luật Công chứng (sửa đổi) năm 2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027, không còn quy định phải công chứng đối với văn bản uỷ quyền thực hiện quyền khiếu nại. Đây là quy định giúp cắt giảm thủ tục hành chính và chi phí của người khiếu nại.
Các quy định về nghĩa vụ của người khiếu nại quy định tại khoản 2 Điều 99 Luật THADS năm 2025 cơ bản kế thừa các quy định của Luật THADS năm 2008, nhưng có bổ sung thêm một số nội dung, đó là chấp hành quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên mà mình khiếu nại trong thời gian khiếu nại, trừ trường hợp tạm dừng việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc tạm ngừng việc thi hành án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 101 của Luật này. Quy định nêu trên nhằm hạn chế tình trạng người khiếu nại lấy lý do đang chờ kết quả giải quyết khiếu nại để không chấp hành quyết định, hành vi của người có thẩm quyền, tìm cách trì hoãn, kéo dài việc thi hành án.
Các quy định về quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại quy định tại Điều 100 Luật THADS năm 2025 cơ bản kế thừa các quy định của Luật THADS năm 2008, nhưng có thay đổi, bổ sung một số nội dung về quyền của người bị khiếu nại như Luật THADS năm 2008 quy định người bị khiếu nại có quyền “được biết các các căn cứ khiếu nại của người khiếu nại”, thì Luật THADS năm 2025 thay đổi thành quy định “được biết các chứng cứ để làm căn cứ giải quyết nội dung khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc danh mục bí mật nhà nước”, ngoài ra Luật THADS năm 2025 bổ sung thêm quy định người bị khiếu nại có quyền “được nhận văn bản thụ lý khiếu nại, thông báo tạm đình chỉ, thông báo đình chỉ” bên cạnh quyền được nhận “quyết định giải quyết khiếu nại” như quy định của Luật THADS năm 2008.
Các quy định về quyền, nghĩa vụ của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 101 Luật THADS năm 2025 cơ bản kế thừa các quy định của Luật THADS năm 2008, nhưng có bổ sung một số nội dung như ngoài việc yêu cầu “người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” thì người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại còn có quyền yêu cầu “cơ quan, tổ chức, cá nhân khác” cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại; người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo Luật THADS năm 2025 có quyền tạm dừng việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tạm ngừng việc thi hành án trong thời hạn giải quyết khiếu nại như quy định của Luật THADS năm 2008, bên cạnh đó cũng có quyền này đối với văn phòng thi hành án dân sự để phù hợp với quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp; đồng thời Luật THADS năm 2025 bổ sung quy định người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền hủy bỏ việc tạm dừng thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc tạm ngừng việc thi hành án, có quyền tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật; Luật THADS năm 2025 quy định người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có nghĩa vụ tiếp nhận, giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi bị khiếu nại như quy định của Luật THADS năm 2008, bổ sung quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để làm căn cứ giải quyết nội dung khiếu nại khi người khiếu nại, người bị khiếu nại yêu cầu; Luật THADS năm 2025 quy định người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thông báo bằng văn bản về việc thụ lý để giải quyết, gửi quyết định giải quyết cho người khiếu nại như Luật THADS năm 2008, bổ sung quy định hình thức thông báo được thực hiện trên môi trường số hoặc qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo.
Về thời hạn giải quyết khiều nại: Điều 102 Luật THADS năm 2005 quy định:
“Điều 102. Thời hạn giải quyết khiếu nại
1. Đối với quyết định, hành vi quy định tại điểm a khoản 2 Điều 96 của Luật này thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
2. Đối với quyết định, hành vi quy định tại điểm b khoản 2 Điều 96 của Luật này thì thời hạn giải quyết khiếu nại là 05 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
3. Đối với quyết định, hành vi quy định tại điểm c khoản 2 Điều 96 của Luật này thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 30 ngày, lần hai là 45 ngày kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
Đối với những vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
4. Trường hợp ở vùng sâu, vùng xa, đường sá xa xôi, đi lại khó khăn, vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.”.
Quy định trên có sự thay đổi so với quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại của Luật THADS năm 2008:
- Quy định chung đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế và sau khi có quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 30 ngày, lần hai là 45 ngày kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại (không tách ra thành hai thời hạn giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế được quy định tại Luật THADS năm 2008).
Về hình thức khiếu nại: Điều 103 Luật THADS năm 2025 có quy định làm rõ, bổ sung hình thức thực hiện việc khiếu nại là trực tiếp nộp đơn hoặc gửi đơn trên môi trường số đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại (bên cạnh các hình thức thực hiện việc khiếu nại đã được Luật THADS năm 2008 quy định như gửi đơn qua đường bưu điện hoặc trình bày trực tiếp nội dung khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hoặc khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện).
Về thụ lý đơn khiếu nại: Điều 104 Luật THADS năm 2025 quy định bổ sung trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại lần hai thuộc thẩm quyền giải quyết, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải thụ lý hoặc thông báo không thụ lý để giải quyết (Luật THADS năm 2008 chỉ quy định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn khiếu nại lần đầu thuộc thẩm quyền giải quyết, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải thụ lý hoặc thông báo không thụ lý để giải quyết). Quy định nêu trên của Luật THADS năm 2025 nhằm tăng cường trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với việc xử lý đơn khiếu nại lần hai, tránh việc để kéo dài thời gian.
Về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu: Khoản 1 Điều 105 Luật THADS năm 2025 đã kế thừa toàn bộ Điều 150 Luật THADS năm 2008: “Sau khi thụ lý đơn khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiến hành xác minh, yêu cầu người bị khiếu nại giải trình, trong trường hợp cần thiết, có thể trưng cầu giám định hoặc tổ chức đối thoại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại.
Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại thuộc thẩm quyền.”.
Khoản 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 105 Luật THADS năm 2025 quy định mới một số nội dung:
“2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ra thông báo tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại trong các trường hợp sau đây:
a) Do tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng làm cho người khiếu nại hoặc người bị khiếu nại không thể tiếp tục tham gia quá trình giải quyết khiếu nại và sự vắng mặt của họ gây ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại;
b) Cần chờ kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền về vấn đề có liên quan trực tiếp đến nội dung khiếu nại.
3. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ra thông báo đình chỉ giải quyết khiếu nại trong các trường hợp sau đây:
a) Người khiếu nại rút toàn bộ khiếu nại;
b) Cá nhân khiếu nại chết mà quyền, lợi ích liên quan đến nội dung khiếu nại không được thừa kế; cơ quan, tổ chức khiếu nại giải thể, phá sản hoặc kết thúc hoạt động;
c) Vụ việc khiếu nại không còn đối tượng hoặc nội dung để giải quyết;
d) Nội dung khiếu nại đã được giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo.
4. Khi căn cứ tạm đình chỉ không còn thì người giải quyết khiếu nại tiếp tục giải quyết khiếu nại và thông báo cho các bên có liên quan; thời gian tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại không tính vào thời hạn giải quyết khiếu nại.
5. Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và của Trưởng văn phòng thi hành án dân sự có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 96 của Luật này mà người khiếu nại không khiếu nại lần hai.
Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án có hiệu lực thi hành ngay.”.
Các quy định về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết khiếu nại khi có một trong các căn cứ nêu trên. Bên cạnh đó, quy định đình chỉ giải quyết khiếu nại khi “nội dung khiếu nại đã được giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo” (đã có kết luận tố cáo hoặc văn bản không thụ lý tố cáo hoặc quyết định đình chỉ giải quyết tố cáo,…) còn nhằm hạn chế việc người khiếu nại lợi dụng khoảng trống của quy định pháp luật để khiếu nại, tố cáo nhằm kéo dài thời gian thi hành án. Quy định tại khoản 5 Điều 105 Luật THADS năm 2025 “Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án có hiệu lực thi hành ngay” là được nâng lên thành luật từ quy định tại khoản 3 Điều 38 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.
Về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai quy định tại Điều 106 Luật THADS năm 2025 cơ bản kế thừa quy định tại Điều 152 Luật THADS năm 2008, có bổ sung quy định việc tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại thực hiện như quy định của giải quyết khiếu nại lần đầu.
Về nội dung quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu và lần hai) quy định tại Điều 107 Luật THADS năm 2025 cơ bản kế thừa các quy định của Luật THADS năm 2008, nhưng bỏ nội dung trong quyết định giải quyết khiếu nại về “việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật.(còn tiếp)
Th.S Trần Phương Hồng - Phó Trưởng ban Ban Kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Nguồn: thads.moj.gov.vn