Nghĩa vụ kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân trong thi hành án dân sự
23/05/2026
Trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự, việc xử lý tài sản kê biên để thi hành án, đặc biệt là bán đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là hoạt động diễn ra thường xuyên. Cùng với việc chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thì các nghĩa vụ tài chính về thuế, trong đó có thuế thu nhập cá nhân, cũng phát sinh trong quá trình thực hiện.
Thực tiễn hiện nay cho thấy, nghĩa vụ kê khai và nộp thuế trong hoạt động thi hành án dân sự đang đặt ra nhiều khó khăn, vướng mắc đối với Chấp hành viên và cơ quan Thi hành án dân sự. Đặc biệt, việc áp dụng pháp luật thuế theo hướng mặc nhiên xem cơ quan Thi hành án dân sự là chủ thể phải chịu trách nhiệm kê khai, nộp thuế và chịu xử phạt vi phạm hành chính về thuế trong mọi trường hợp đã phát sinh nhiều bất cập, chưa thật sự phù hợp với bản chất pháp lý của hoạt động thi hành án dân sự.
Theo điểm g khoản 5 Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, “bên thứ ba có liên quan được phép bán tài sản của cá nhân theo quy định của pháp luật thì bên thứ ba có trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân”. Từ quy định này, trong thực tiễn áp dụng, cơ quan Thi hành án dân sự được xác định là chủ thể kê khai, nộp thuế thay cho người phải thi hành án khi xử lý tài sản để thi hành án. Về bản chất pháp lý, người có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân vẫn là người phải thi hành án – tức chủ sở hữu tài sản bị xử lý. Bởi lẽ: tài sản bị bán là tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án; khoản tiền thu được từ bán đấu giá dùng để thực hiện nghĩa vụ của chính người phải thi hành án; khoản thuế phát sinh được khấu trừ từ giá trị tài sản của người phải thi hành án nên người có nghĩa vụ kê khai thuế đầu tiên phải xác định là người phải thi hành án. Tuy nhiên, Luật Quản lý thuế và các văn bản quy định chưa có quy định riêng xác định thời điểm “người phải thi hành án không kê khai thuế” trong hoạt động thi hành án dân sự để Chấp hành viên thực hiện kê khai thuế, nói cách khác, đó là điều kiện để Chấp hành viên kê khai. Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP: Người nộp thuế chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế, bảng kê, phụ lục. Trong khi đó, Chấp hành viên và cơ quan Thi hành án dân sự chỉ là chủ thể được Nhà nước giao tổ chức thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Chấp hành viên không phải chủ sở hữu tài sản, không được hưởng lợi ích vật chất từ việc chuyển nhượng tài sản và cũng không phải chủ thể có thu nhập phát sinh từ giao dịch. Do đó, nếu đồng nhất trách nhiệm của Chấp hành viên, Cơ quan thi hành án với trách nhiệm của người nộp thuế trong giao dịch dân sự thông thường là chưa thật sự phù hợp với bản chất của hoạt động thi hành án dân sự. Việc pháp luật thuế hiện nay gần như mặc nhiên quy trách nhiệm kê khai cho cơ quan Thi hành án dân sự mà chưa xem xét đầy đủ nội dung hợp đồng mua bán tài sản đấu giá là chưa thật sự phù hợp với bản chất của quan hệ pháp luật phát sinh sau đấu giá. Điều này dẫn đến Chấp hành viên đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện nghĩa vụ kê khai thuế như người phải thi hành án không hợp tác kê khai, chưa xác định được chính xác nghĩa vụ thuế, chưa giao được tài sản cho người mua. Cơ quan Thi hành án dân sự vẫn bị đặt vào nguy cơ bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế nếu chậm kê khai.
Bên cạnh đó, cần thấy rằng hoạt động xử lý tài sản trong thi hành án dân sự có tính chất hoàn toàn khác với giao dịch chuyển nhượng dân sự thông thường, được biểu hiện: xử lý tài sản mang tính cưỡng chế nhà nước; người phải thi hành án thường không hợp tác; nhiều trường hợp phát sinh tranh chấp, khiếu nại, chống đối việc giao tài sản; tài sản dù đã đấu giá thành nhưng chưa thể bàn giao ngay cho người mua trúng đấu giá. Chính vì vậy, khoản 3 Điều 133 Luật Đất đai 2024 đã quy định: “Trường hợp thi hành án thì thời hạn đăng ký biến động được tính từ ngày bàn giao tài sản thi hành án, tài sản bán đấu giá.” Theo đó, việc bán đấu giá thành chưa đồng nghĩa với việc hoàn tất chuyển dịch tài sản. Chỉ khi tài sản được bàn giao thực tế cho người mua trúng đấu giá thì mới phát sinh cơ sở để thực hiện đăng ký biến động quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản.
Trong thực tiễn thi hành án dân sự, có nhiều trường hợp sau khi đấu giá thành nhưng: người phải thi hành án chống đối việc giao tài sản; có tranh chấp về quyền sở hữu; phát sinh khiếu nại, tố cáo; phải tổ chức cưỡng chế giao tài sản; tài sản đang do người thứ ba chiếm giữ, thậm chí có nhiều trường hợp hợp đồng mua bán tài sản bị hủy bỏ. Do đó, nếu vẫn áp dụng cứng thời hạn kê khai thuế theo thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực như giao dịch dân sự thông thường thì người đăng ký, kê khai không có tài liệu để có bộ hồ sơ đăng ký biến động theo quy định tại Điều 106 Luật Thi hành án dân sự. Điều này tất yếu sẽ dẫn đến cơ quan Thi hành án dân sự vẫn bị xem là chậm kê khai thuế và có nguy cơ bị xử phạt vi phạm hành chính.
Pháp luật về kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân quy định: Trường hợp trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản không có thỏa thuận bên mua là người nộp thuế thay cho bên bán thì bên thứ ba có liên quan được phép bán tài sản của cá nhân (Cơ quan thi hành án dân sự) có trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân theo quy định tại điểm g khoản 5 Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP. Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày thứ 10 kể từ thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản có thỏa thuận bên mua là người nộp thuế thay cho bên bán thì bên mua có trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân theo quy định tại điểm g khoản 5 Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP. Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là thời điểm làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản (Theo quy định của Luật đất đai, đăng ký biến động chậm nhất 30 ngày, được tính từ ngày bàn giao tài sản thi hành án, tài sản bán đấu giá).
Dưới góc độ pháp luật về đấu giá tài sản, sau khi đấu giá thành thì quan hệ pháp lý được xác lập bằng hợp đồng mua bán tài sản đấu giá. Tại khoản 2a Điều 46 Luật Đấu giá tài sản quy định: “Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ cuộc đấu giá thì người có tài sản đấu giá và người trúng đấu giá ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá...”. Điều này cho thấy quyền và nghĩa vụ của các bên phải được xác định thông qua hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, trong đó bao gồm cả nghĩa vụ về thuế, phí và thủ tục đăng ký tài sản. Điều 48 quy định về quyền và nghĩa vụ của người mua trúng đấu giá có quy định có các quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán đáu giá và theo quy định pháp luật; không có quy định nào bắt buộc: cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên phải trực tiếp đi kê khai hồ sơ thuế; hoặc không được giao nghĩa vụ này cho người mua. Do đó, hoàn toàn có thể thiết kế trong hợp đồng “Người mua trúng đấu giá có trách nhiệm thực hiện thủ tục kê khai thuế, đăng ký biến động và các nghĩa vụ tài chính liên quan theo quy định pháp luật.
Hãy phân tích tình huống sau: Chấp hành viên ký hợp đồng mua bán tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất với người mua trúng đấu giá tài sản khi hợp đồng mua bán không quy định người mua kê khai, nộp thuế. Theo đó, để đảm bảo quy định pháp luật đấu giá, hợp đồng phải công chứng và hoàn tất các thủ tục khác (nếu có) để hợp đồng có hiệu lực. Theo luật Thuế thu nhập cá nhân, trong thời hạn 10 ngày tiếp theo, Chấp hành viên phải đăng ký kê khai thuế và tiến hành nộp thuế mặc dù người mua trúng đấu giá chưa nộp đủ tiền, chưa giao tài sản. Từ đây, những vấn đề rắc rối phát sinh: Chậm kê khai nộp thuế: Trường hợp chậm kê khai sẽ đối mặt với vi phạm kê khai thuế và bị xử phạt vi phạm hành chính. Ứng nguồn tiền nào để nộp thuế, nộp phạt vi phạm. Hợp đồng mua bán có nguy cơ bị hủy vì tâm lý gặp rắc rối thuế. Trường hợp hợp đồng mua bán bị hủy, khi đó, tiền hoàn thuế có được hoàn đủ hay không, nếu ứng từ tiền mua tài sản để nộp thì tiền lãi bị mất ai là người phải chịu?
Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 quy định thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng bất động sản là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực hoặc thời điểm đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu bất động sản. Với quy định này, việc kê khai nộp thuế có thuận lợi hơn khi lựa chọn thời điểm đăng để xác định thời điểm xác định thu nhập tính thuế.
Từ những bất cập nêu trên, theo quan điểm cá nhân:
1. Trước mắt, đối với Chấp hành viên: Thông báo bán đấu giá, Quy chế bán đấu gía, hợp đồng mua bán đấu giá tài sản nên đưa vào quy định bên mua là người nộp có trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay để không bị xử lý vi phạm thời hạn về kê khai thuế, không vi phạm Luật Đấu giá tài sản.
2. Về hoàn thiện pháp luật:
Thứ nhất, cần sửa đổi quy định về thời điểm kê khai thuế đối với tài sản bán đấu giá trong thi hành án dân sự theo hướng thống nhất với khoản 3 Điều 133 Luật Đất đai 2024, tức thời điểm kê khai nên được tính từ ngày bàn giao tài sản cho người mua trúng đấu giá.
Thứ hai, cần xác định rõ trong pháp luật thuế rằng người phải thi hành án mới là người chịu thuế; còn cơ quan Thi hành án dân sự chỉ là chủ thể thực hiện kê khai, nộp thay theo thủ tục hành chính.
Thứ ba, cần ban hành mẫu hợp đồng mua bán tài sản đấu giá thống nhất trong hệ thống Thi hành án dân sự, trong đó quy định cụ thể: ai thực hiện kê khai thuế; ai nộp hồ sơ thuế; ai thực hiện đăng ký biến động; trách nhiệm của từng bên.
Thứ tư, cần bổ sung cơ chế miễn hoặc không xử phạt vi phạm hành chính đối với Chấp hành viên trong trường hợp chậm kê khai do nguyên nhân khách quan phát sinh từ quá trình tổ chức thi hành án dân sự.
Thứ năm, cần nghiên cứu cơ chế “thoái thu” đối với tài sản thi hành án khi hợp đồng mua bán đấu giá bị hủy, cho phép cơ quan THADS thực hiện thủ tục thoái thu ngân sách đối với khoản thuế đã nộp.
Có thể khẳng định rằng nghĩa vụ kê khai, nộp thuế trong thi hành án dân sự là vấn đề liên quan đồng thời đến pháp luật thuế, pháp luật đất đai, pháp luật đấu giá tài sản và pháp luật thi hành án dân sự. Do đó, rất cần có sự hoàn thiện đồng bộ và thống nhất giữa các ngành luật nhằm bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn và phù hợp với bản chất đặc thù của hoạt động thi hành án dân sự. Đồng thời, việc hoàn thiện pháp luật cũng góp phần bảo vệ Chấp hành viên trong quá trình thực thi công vụ, tránh tình trạng Chấp hành viên phải gánh chịu các rủi ro pháp lý vượt quá chức năng, nhiệm vụ và bản chất hoạt động nghề nghiệp của mình. Ths Nguyễn Văn Tuấn Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai