Sign In

Quy định mới của Luật THADS năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành về xác minh điều kiện thi hành án, thông báo thi hành án

11/04/2026

Quy định mới của Luật THADS năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành về xác minh điều kiện thi hành án, thông báo thi hành án
Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 đã điều chỉnh đáng kể khuôn khổ pháp lý của thủ tục thi hành án dân sự, trong đó có nhóm quy định về thông báo thi hành án và xác minh điều kiện thi hành án. So với Luật THADS năm 2008, Luật năm 2025 không chỉ sửa đổi từng thủ tục cụ thể mà còn thay đổi cách tiếp cận: giảm bớt các quy định chi tiết trong Luật, tăng cường số hóa, đẩy mạnh liên thông dữ liệu, xác lập cơ chế xử lý thực chất hơn đối với việc chưa có điều kiện thi hành án.
 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau gần 17 năm thi hành, Luật THADS năm 2008, dù đã được sửa đổi, bổ sung, vẫn bộc lộ những điểm nghẽn đáng kể. Số việc phải thi hành chuyển kỳ sau còn cao, tỷ lệ việc chưa có điều kiện thi hành án lớn, cơ chế phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức liên quan chưa thật hiệu quả, quy trình thủ tục còn dài, trong khi yêu cầu thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế và yêu cầu chuyển đổi số ngày càng cao. Những hạn chế đó tác động trực tiếp tới hai khâu nền tảng của quá trình tổ chức thi hành án là thông báo thi hành án và xác minh điều kiện thi hành án. Nếu thông báo không kịp thời, không hợp lệ hoặc không theo kịp sự dịch chuyển của đời sống số, cơ quan thi hành án gặp khó trong việc bảo đảm quyền được biết của đương sự và khó xác định mốc thời gian pháp lý để tiếp tục thủ tục. Nếu xác minh điều kiện thi hành án chậm, phân tán, phụ thuộc vào phối hợp thủ công hoặc không có cơ chế xử lý hồ sơ kéo dài, toàn bộ quy trình thi hành án bị đình trệ, tạo dư địa cho đương sự tẩu tán tài sản và làm giảm hiệu lực của bản án, quyết định.
Chính vì vậy, Luật THADS năm 2025 đã lựa chọn sửa đổi theo hướng vừa kế thừa các nguyên tắc ổn định của Luật năm 2008, vừa thay đổi tương đối mạnh ở các điểm then chốt. Về mặt kỹ thuật lập pháp, luật mới chuyển một phần nội dung chi tiết sang Nghị định để tạo dư địa điều chỉnh linh hoạt. Luật mới đặt thông báo và xác minh trong cấu trúc chuyển đổi số, kết nối cơ sở dữ liệu, sử dụng nền tảng số và ứng dụng định danh điện tử.
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬA ĐỔI
2.1. Thông báo thi hành án và xác minh điều kiện thi hành án là hai thủ tục bản lề của quá trình tổ chức thi hành án
Trong thi hành án dân sự, thông báo là cơ chế chuyển tải ý chí quyền lực công từ cơ quan thi hành án đến đương sự và các chủ thể liên quan. Thông báo hợp lệ không chỉ bảo đảm quyền tiếp cận thông tin mà còn là mốc kích hoạt hàng loạt hệ quả pháp lý như thời hạn tự nguyện thi hành án, quyền khiếu nại, quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cưỡng chế. Xác minh điều kiện thi hành án lại là thủ tục giúp cơ quan thi hành án chuyển từ trạng thái “có bản án” sang trạng thái “có khả năng tổ chức thi hành”. Nếu không nắm được thông tin về tài sản, thu nhập, nơi cư trú, tình trạng pháp lý của tài sản và khả năng hợp tác của người phải thi hành án, Chấp hành viên khó lựa chọn đúng biện pháp nghiệp vụ và khó ngăn chặn nguy cơ tẩu tán tài sản.
2.2. Những bất cập của khuôn khổ pháp luật cũ
Thứ nhất, pháp luật cũ được thiết kế chủ yếu cho môi trường giấy tờ truyền thống. Các điều luật về gửi quyết định và thông báo thi hành án phân tán, thiên về giao trực tiếp, niêm yết hoặc thông báo qua phương tiện thông tin đại chúng; trong khi đó, thực tiễn quản trị xã hội đã chuyển mạnh sang các phương thức điện tử, xác thực số và dữ liệu dân cư.
Thứ hai, cơ chế xác minh điều kiện thi hành án tuy đã có nền tảng nhưng còn phụ thuộc nhiều vào sự phối hợp thủ công giữa các cơ quan, tổ chức; quy định về xác minh theo ủy quyền, trách nhiệm của cơ quan nhận ủy quyền và việc xử lý các hồ sơ chưa có điều kiện thi hành án còn chưa thật rõ, làm phát sinh cách hiểu khác nhau.
Thứ ba, đối với việc chưa có điều kiện thi hành án, mô hình theo dõi cũ chưa giải quyết hài hòa giữa yêu cầu bảo vệ quyền của người được thi hành án với yêu cầu giảm án tồn và tối ưu hóa nguồn lực nhà nước.
2.3. Áp lực cải cách tư pháp, số hóa và nâng cao hiệu quả quản trị hồ sơ
Luật năm 2025 ra đời trong bối cảnh các yêu cầu cải cách tư pháp, chuyển đổi số quốc gia và kiểm soát quyền lực trong hoạt động tư pháp được nhấn mạnh mạnh mẽ hơn trước. Chính vì vậy, việc sửa đổi không thể dừng ở mức chỉnh lý câu chữ, mà phải tạo ra một logic vận hành mới. Logic đó gồm: giảm bớt sự phân mảnh của các điều luật; thiết lập cơ sở dữ liệu và nền tảng số để cơ quan thi hành án có thể gửi, nhận và khai thác thông tin trên môi trường số; đồng thời phân loại lại những hồ sơ không còn khả năng tổ chức thi hành trong một khoảng thời gian dài để có cơ chế quản lý thực chất hơn. Đây là lý do sâu xa giải thích vì sao Luật THADS năm 2025 sửa đổi mạnh ở các điều liên quan đến thông báo, xác minh và xử lý việc chưa có điều kiện thi hành án.
3. QUY ĐỊNH MỚI VỀ THÔNG BÁO THI HÀNH ÁN
3.1. Lý do cần phải sửa quy định về thông báo thi hành án
Quy định về thông báo thi hành án trong Luật năm 2008 đã hoàn thành sứ mệnh ở một giai đoạn mà hạ tầng số của Nhà nước chưa phát triển mạnh. Tuy nhiên, khi chuyển sang bối cảnh hiện nay, mô hình này phát sinh nhiều bất cập. Một là, thủ tục thông báo được quy định rải ra ở nhiều điều, khiến người áp dụng khó hình dung một quy trình thống nhất. Hai là, phương thức thông báo truyền thống tốn thời gian, chi phí và gặp khó khăn trong trường hợp đương sự thay đổi nơi cư trú, sống phân tán, ở nước ngoài hoặc cố tình né tránh việc nhận văn bản. Ba là, quy định cũ chưa gắn đầy đủ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, định danh điện tử và các nền tảng số của Nhà nước. Bốn là, trên thực tế, từ khâu thông báo đến xác minh, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản đều có thể gặp cản trở, chống đối; nếu không có cơ chế pháp lý đồng bộ cho việc gửi nhận nhanh, minh bạch và truy vết được, hiệu quả tổ chức thi hành án bị ảnh hưởng đáng kể.
3.2. Luật năm 2025 đã sửa theo hướng hợp nhất, rõ đầu việc và mở rộng phương thức thông báo
Điểm mới đầu tiên là luật mới hợp nhất nội dung gửi quyết định về thi hành án và thông báo về thi hành án trong cùng một điều luật. Sự thay đổi này không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn giúp người áp dụng dễ xác định một “cụm thủ tục” hoàn chỉnh: văn bản nào phải gửi, chủ thể nào phải nhận, thời hạn gửi ra sao, trường hợp nào được coi là hợp lệ. So với Luật năm 2008, cách thiết kế mới giúp giảm tình trạng phải tra cứu phân tán nhiều điều luật và hạn chế sự lẫn lộn giữa gửi quyết định, tống đạt giấy triệu tập và các thông báo nghiệp vụ khác.
Điểm mới thứ hai là Luật năm 2025 bảo lưu mốc thời hạn 03 ngày làm việc đối với việc gửi quyết định và thông báo, nhưng mở rộng và làm rõ hơn các trường hợp ngoại lệ, đặc biệt đối với các tình huống cần ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Cách sửa này cho thấy nhà làm luật không phá vỡ tính ổn định của thủ tục cũ, nhưng bổ sung rõ hơn những trường hợp mà tính khẩn cấp của việc thi hành án phải được đặt cao hơn thủ tục thông báo thông thường.
Điểm mới thứ ba, cũng là thay đổi có ý nghĩa cấu trúc, là luật mới gắn thông báo thi hành án với môi trường số. Điều 5 và Điều 35 của Luật THADS năm 2025 đặt nền tảng pháp lý để văn bản, hồ sơ, tài liệu trong thi hành án có thể được lập, ký số, gửi, nhận, lưu trữ và xử lý trên môi trường số với giá trị pháp lý tương đương văn bản giấy nếu đáp ứng điều kiện theo pháp luật. Từ đây, thông báo thi hành án không còn chỉ được hiểu là một hành vi tống đạt giấy tờ, mà trở thành một hoạt động truyền thông tin pháp lý đa kênh, có thể thực hiện trên nền tảng số, ứng dụng định danh điện tử, thư điện tử và các phương tiện điện tử khác theo hướng dẫn dưới luật.
3.3. Việc thể chế hóa các quy định của Luật THADS năm 2025 trong các văn bản quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật
Dự thảo Nghị định đã tiếp tục cụ thể hóa định hướng số hóa của Luật. Dự thảo quy định việc gửi, nhận các văn bản, hồ sơ, tài liệu liên quan đến thi hành án dân sự được thực hiện trên môi trường số; trường hợp cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự đã kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu khác thì có thể thực hiện bằng thông điệp dữ liệu theo pháp luật về giao dịch điện tử. Dự thảo còn xác định cụ thể thông báo trên môi trường số được thực hiện thông qua ứng dụng VNeID; ngày ứng dụng báo đã gửi được coi là ngày thông báo hợp lệ; đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm truy cập ứng dụng để nhận thông báo; đồng thời cho phép thông báo đồng thời trên phương tiện điện tử khác khi đương sự đề nghị. Đây là bước đi đáng chú ý vì đã dịch chuyển trọng tâm từ “người thi hành án phải đi tìm người nhận thông báo” sang mô hình “Nhà nước thiết lập hạ tầng số và người tham gia quan hệ pháp luật có trách nhiệm chủ động truy cập, tiếp nhận”.
4. QUY ĐỊNH MỚI VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN
4.1. Hạn chế của cơ chế xác minh theo khuôn khổ cũ
Dưới khuôn khổ của Luật THADS năm 2008 và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, xác minh điều kiện thi hành án vẫn do Chấp hành viên giữ vai trò trung tâm. Đây là cấu trúc hợp lý và được Luật năm 2025 tiếp tục kế thừa. Tuy nhiên, thực tiễn bộc lộ nhiều hạn chế. Một là, hoạt động xác minh còn tản mạn giữa nhiều đầu mối, chưa dựa nhiều vào khai thác dữ liệu số. Hai là, quy định về ủy quyền xác minh chưa đủ mạnh để ràng buộc trách nhiệm của cơ quan nhận ủy quyền; trên thực tế có nơi coi đây là việc hỗ trợ hơn là nhiệm vụ bắt buộc, dẫn tới chậm trả lời, xác minh không đầy đủ hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Ba là, quy định về các việc chưa có điều kiện thi hành án sau khi chuyển sổ theo dõi riêng chưa rõ ràng, gây ra hai thái cực: hoặc xác minh dàn trải, hình thức; hoặc buông lỏng theo dõi, bỏ lỡ thông tin mới về tài sản. Bốn là, pháp luật cũ chưa đặt xác minh trong một hệ thống dữ liệu liên thông về dân cư, đất đai, đăng ký doanh nghiệp, tín dụng, công chứng, đăng ký biện pháp bảo đảm, xuất nhập cảnh... nên tốc độ và chiều sâu xác minh phụ thuộc nhiều vào công văn và phối hợp truyền thống.
4.2. Luật năm 2025 sửa theo hướng số hóa thông tin và tái cấu trúc cơ chế xử lý việc chưa có điều kiện thi hành án
Luật THADS năm 2025 trước hết giữ lại những nguyên tắc đúng của pháp luật cũ: Chấp hành viên vẫn là chủ thể trung tâm trong xác minh; người được thi hành án vẫn có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh và cung cấp thông tin; việc xác minh vẫn gắn với thời điểm sau khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án hoặc khi có thông tin mới. Tuy nhiên, phần sửa đổi quan trọng nằm ở việc đặt toàn bộ hoạt động xác minh trong nền tảng của chuyển đổi số. Điều 5 của Luật quy định cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự do Bộ Tư pháp quản lý, được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và các cơ sở dữ liệu khác; các thủ tục thi hành án có thể thực hiện trên môi trường số; văn bản, hồ sơ, tài liệu điện tử có giá trị pháp lý như bản giấy. Điều này cho phép xác minh điều kiện thi hành án từng bước chuyển từ phương thức “xác minh bằng công văn” sang phương thức “xác minh bằng dữ liệu kết nối”.
Sửa đổi có ý nghĩa lớn hơn cả nằm ở cơ chế xử lý việc chưa có điều kiện thi hành án tại Điều 38 của Luật năm 2025. Nếu trước đây luật cũ đi theo logic: xác minh định kỳ - ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án - chuyển sổ theo dõi riêng - tiếp tục lúng túng trong việc có xác minh tiếp hay không, thì luật mới đi theo logic rõ hơn: vẫn xác minh theo chu kỳ luật định trong một khoảng thời gian; nhưng hết 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án, nếu đã xác minh theo luật mà không có thông tin mới, thì cơ quan thi hành án xử lý theo cơ chế khác. Đối với việc thi hành án theo yêu cầu, hồ sơ được chuyển sang cơ chế gửi lại yêu cầu thi hành án; đối với việc thi hành án chủ động, chuyển sang sổ theo dõi để thống kê riêng. Đây là một sự thay đổi cả về triết lý quản trị và kỹ thuật pháp lý.
4.3. Vì sao cơ chế “gửi lại yêu cầu thi hành án” là điểm đột phá
Cơ chế gửi lại yêu cầu thi hành án thể hiện sự điều chỉnh cân bằng lợi ích khá tinh tế. Về một phía, Nhà nước không thể mãi duy trì trạng thái theo dõi tích cực đối với những hồ sơ không có thông tin mới và không có khả năng tổ chức thi hành trong thời gian dài, vì điều đó làm phân tán nguồn lực, che mờ bức tranh thống kê thực chất và tạo áp lực hình thức cho cơ quan thi hành án. Về phía khác, quyền của người được thi hành án không thể bị triệt tiêu chỉ vì người phải thi hành án tạm thời chưa có tài sản. Bởi vậy, Luật năm 2025 chọn giải pháp trung gian: cơ quan thi hành án gửi lại yêu cầu cho người đã yêu cầu; hồ sơ và tài liệu được sao lưu; khi có căn cứ xác định người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì đương sự có thể yêu cầu tổ chức thi hành trở lại, và khoảng thời gian này không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án. Cách thiết kế này chuyển trọng tâm từ việc “cơ quan nhà nước phải truy đuổi vô hạn” sang việc “cơ quan nhà nước bảo lưu quyền, lưu giữ căn cứ và tái kích hoạt quy trình khi xuất hiện điều kiện thi hành”.
Xét ở chiều sâu, đây là sửa đổi hợp lý vì nó giải quyết đúng căn nguyên của bất cập cũ. Vấn đề không nằm ở chỗ Chấp hành viên có xác minh định kỳ thêm một lần nữa hay không, mà ở chỗ phải có một cơ chế pháp lý kết thúc giai đoạn theo dõi tích cực mà vẫn không làm mất quyền của người được thi hành án. Cơ chế gửi lại yêu cầu thi hành án chính là câu trả lời cho bài toán đó.
4.4. Việc thể chế hóa các quy định của Luật THADS năm 2025 trong các văn bản quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật
Dự thảo Nghị định trình Chính phủ tiếp tục cụ thể hóa đáng kể Điều 38 của Luật.
Trước hết, dự thảo xác định rõ nội dung xác minh: Chấp hành viên phải xác minh cụ thể thông tin về tài sản, thu nhập; số định danh cá nhân; tình trạng hôn nhân; mã số doanh nghiệp, hợp tác xã; trụ sở, nơi thường trú, tạm trú, nơi ở hiện tại và các thông tin cần thiết khác về điều kiện thi hành án. Quy định này cho thấy xác minh không còn dừng ở phạm vi “có tài sản hay không”, mà mở rộng sang các dữ liệu căn cước và tình trạng pháp lý của chủ thể để giúp việc truy vết tài sản chính xác hơn.
Thứ hai, dự thảo tiếp tục làm rõ việc xử lý sau 02 năm không có thông tin mới: đối với việc chủ động thì chuyển sang sổ theo dõi riêng; đối với việc theo yêu cầu thì thông báo bằng văn bản về việc gửi lại yêu cầu thi hành án cho người đã yêu cầu, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền.
Thứ ba, dự thảo đặt ra yêu cầu khi đương sự yêu cầu thi hành án trở lại thì phải cung cấp tài liệu chứng minh người phải thi hành án có điều kiện thi hành; nếu có căn cứ thì cơ quan thi hành án mới ra quyết định và tổ chức thi hành theo pháp luật. Đây là một bước cụ thể hóa cần thiết nhằm tránh tình trạng tái khởi động hồ sơ chỉ trên cơ sở suy đoán chung chung.
5. KẾT LUẬN
Có thể khẳng định rằng việc sửa đổi quy định về thông báo thi hành án và xác minh điều kiện thi hành án trong Luật THADS năm 2025 là sự thay đổi có chiều sâu cả về tư duy quản trị và kỹ thuật lập pháp. Nếu Luật THADS năm 2008 xây dựng khuôn khổ phù hợp với môi trường quản lý truyền thống, thì Luật năm 2025 đã dịch chuyển sang mô hình tổ chức thi hành án dựa trên dữ liệu, nền tảng số và cơ chế xử lý hồ sơ thực chất hơn. Những sửa đổi đó là cần thiết vì xuất phát từ đúng các điểm nghẽn của thực tiễn: thông báo chậm, khó truy vết; xác minh tốn thời gian, phụ thuộc phối hợp thủ công; hồ sơ chưa có điều kiện thi hành án kéo dài, làm méo số liệu và phân tán nguồn lực.
Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng của cải cách không chỉ phụ thuộc vào Luật mà còn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của Nghị định hướng dẫn và tổ chức thực hiện. Dự thảo Nghị định trình Chính phủ đã đi đúng hướng khi cụ thể hóa môi trường số trong thi hành án, ứng dụng VNeID trong thông báo, nội dung xác minh chi tiết, cơ chế gửi lại yêu cầu thi hành án và liên thông cơ sở dữ liệu. Vấn đề còn lại là tiếp tục hoàn thiện các quy định này theo hướng rõ hơn về điều kiện hợp lệ, trách nhiệm phối hợp, bảo vệ dữ liệu, hỗ trợ chủ thể yếu thế. Nếu làm được điều đó, pháp luật về thi hành án dân sự sẽ tiến thêm một bước quan trọng từ mô hình quản lý thủ công sang mô hình quản trị hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn.

https://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemID=1219
 


Theo Cổng TTĐT Cục Quản lý THADS

Các tin đã đưa ngày: