Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai: Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện báo cáo thống kế THADS và rà soát, điều chỉnh, cập nhật dữ liệu chính xác trên Nền tảng số
20/07/2026
Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai vừa có văn bản chỉ đạo các Phòng chuyên môn, tương đương, Phòng Thi hành án dân sự (THADS) khu vực triển khai, thực hiện việc báo cáo thống kê thi hành án dân sự theo quy định tại Thông tư số 05/2026 của Bộ Tư pháp và rà soát điều chỉnh, cập nhật chính xác dữ liệu THADS trên phần mềm tổ chức thi hành án dân sự.
Theo đó, bắt đầu từ ngày 01/7/2026, năm báo cáo thống kê THADS bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 của năm báo cáo; thời điểm chốt số liệu là thời điểm kết thúc kỳ báo cáo và số liệu được ghi nhận đến hết 24 giờ của ngày cuối cùng của kỳ báo cáo. Việc thay đổi thời điểm xác định năm báo cáo tác động trực tiếp đến việc xác định số năm trước chuyển sang, kết quả thi hành án trong năm và việc đối chiếu dữ liệu giữa hồ sơ nghiệp vụ, báo cáo thống kê với Nền tảng số THADS. Để bảo đảm triển khai thống nhất, đầy đủ, chính xác, kịp thời chế độ báo cáo thống kê trong toàn tỉnh, phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, Trưởng THADS tỉnh yêu cầu Trưởng các phòng chuyên môn và tương đương, Trưởng các Phòng THADS khu vực và các Chấp hành viên tổ chức quán triệt và thực hiện đúng chế độ báo cáo thống kê theo Thông tư số 05/2026/TT-BTP, Công văn số 1624/CQLTHADS-BCĐS&TKDL và các văn bản hướng dẫn có liên quan; tập trung vào các quy định mới về kỳ báo cáo, thời điểm chốt số liệu, biểu mẫu thống kê, hình thức báo cáo, phương thức gửi báo cáo và hướng dẫn ghi chép biểu mẫu. Chấp hành viên có trách nhiệm nghiên cứu, nắm vững và thực hiện đúng chế độ báo cáo thống kê đối với hồ sơ, vụ việc được phân công tổ chức thi hành; chủ động rà soát, thu thập, cập nhật, xử lý và đối chiếu số liệu; chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác, trung thực, thống nhất và khả năng kiểm tra, truy xuất của số liệu báo cáo. Số liệu thống kê phải phản ánh đúng diễn biến nghiệp vụ thực tế, được xác lập từ hồ sơ thi hành án, chứng từ kế toán nghiệp vụ, sổ theo dõi, tài liệu điện tử, dữ liệu trên Nền tảng số và các tài liệu hợp pháp khác có liên quan; bảo đảm thống nhất giữa số liệu về việc, về tiền và giữa các biểu mẫu thống kê. Rà soát, xác định số năm trước chuyển sang năm 2026 Chấp hành viên chủ động rà soát toàn bộ hồ sơ thi hành án được phân công; đối chiếu hồ sơ nghiệp vụ, báo cáo thống kê kỳ 03 tháng tính đến ngày 31/12/2025, sổ theo dõi, số liệu kế toán nghiệp vụ và dữ liệu trên Nền tảng số để xác định chính xác số năm trước chuyển sang năm 2026. Số năm trước chuyển sang năm 2026 (trừ số đã chuyển sang sổ theo dõi riêng) được xác định bằng số “Tổng số phải thi hành” trừ số “Tổng số thi hành xong” của kỳ báo cáo 03 tháng tính đến ngày 31/12/2025, theo hướng dẫn của Cục Quản lý THADS tại Công văn số 1850/CQLTHADS-BCĐS&TKDL ngày 10/6/2026. Việc xác định phải được thực hiện cụ thể theo từng quyết định thi hành án, từng hồ sơ, từng khoản nghĩa vụ về việc và về tiền, không xác định bằng số tổng hợp chung mà chưa đối chiếu. Trường hợp có chênh lệch giữa hồ sơ nghiệp vụ, báo cáo thống kê đã lập, số liệu kế toán nghiệp vụ và dữ liệu trên Nền tảng số, Chấp hành viên phải kiểm tra, xác định nguyên nhân, lập danh sách chi tiết và báo cáo Thủ trưởng đơn vị để chỉ đạo xử lý. Không tự ý điều chỉnh số liệu khi chưa có hồ sơ, tài liệu và căn cứ nghiệp vụ chứng minh việc điều chỉnh, bảo đảm tính trung thực của thời điểm và kết quả thi hành xong. Do kỳ báo cáo thống kê năm 2026 được tính từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31/12/2026, kết quả thi hành án về việc, về tiền đã thực hiện trong các tháng 10, 11 và 12 năm 2025 không được tính vào kết quả thi hành án của kỳ báo cáo năm 2026 nên phải đối chiếu kỹ, đầy đủ, chính xác. Các vụ việc, khoản tiền đã thi hành xong trong thời gian này phải được ghi nhận đúng vào kỳ báo cáo tương ứng và không được đưa vào số năm trước chuyển sang năm 2026. Chấp hành viên phải xác định, cập nhật ngày thi hành xong về việc, ngày thi hành xong về tiền và trạng thái hồ sơ theo đúng thời điểm nghiệp vụ thực tế phát sinh, phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ thi hành án. Nghiêm cấm việc sửa đổi, điều chỉnh ngày thi hành xong của vụ việc, khoản tiền đã thi hành xong trong 3 năm 2025 sang năm 2026 nhằm tăng số việc, số tiền thi hành xong hoặc nâng tỷ lệ thi hành án xong trong kỳ báo cáo năm 2026; nghiêm cấm trì hoãn việc cập nhật trạng thái hoặc ghi nhận thời điểm thi hành xong không đúng thực tế. Việc điều chỉnh dữ liệu chỉ được thực hiện để khắc phục sai sót có thật, trên cơ sở hồ sơ, chứng từ và tài liệu nghiệp vụ hợp pháp; phải nêu rõ nội dung, nguyên nhân, căn cứ điều chỉnh và thực hiện theo quy trình quản trị dữ liệu. Chấp hành viên thực hiện điều chỉnh phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của dữ liệu sau điều chỉnh. Trưởng các phòng chuyên môn và tương đương, Trưởng các Phòng THADS khu vực có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu ngày thi hành xong trên báo cáo thống kê và Nền tảng số với chứng từ thu, chi, biên bản giao nhận tiền, tài sản, tài liệu xác nhận nghĩa vụ đã được thực hiện và các tài liệu nghiệp vụ khác có liên quan. Trường hợp phát hiện dấu hiệu điều chỉnh thời điểm thi hành xong không có căn cứ, làm sai lệch dữ liệu hồ sơ hoặc kết quả thống kê, phải kịp thời kiểm tra, làm rõ, khôi phục dữ liệu đúng và báo cáo Trưởng THADS tỉnh xem xét, xử lý trách nhiệm theo quy định. Chủ động lập báo cáo khi chưa khai thác, trích xuất được từ Nền tảng số Việc lập báo cáo thống kê được ưu tiên thực hiện bằng việc khai thác, trích xuất dữ liệu từ Nền tảng số và các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu có liên quan. Tuy nhiên, trong thời gian Nền tảng số chưa hoàn thiện chức năng tổng hợp, trích xuất báo cáo hoặc phát sinh sự cố kỹ thuật, các đơn vị và Chấp hành viên không được chờ hệ thống, không được để chậm thời hạn báo cáo mà phải chủ động lập báo cáo từ hồ sơ nghiệp vụ và các nguồn dữ liệu hợp pháp. Chấp hành viên phải chủ động xây dựng đầy đủ các báo cáo thống kê thuộc trách nhiệm của mình theo đúng biểu mẫu và bản giải thích biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 05/2026/TT-BTP; đồng thời tiếp tục cập nhật, hoàn thiện dữ liệu trên Nền tảng số để bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, thống nhất với báo cáo đã lập. Trường hợp số liệu báo cáo được tổng hợp từ nguồn khác với số liệu thống kê chính thức hoặc chưa đồng bộ với Nền tảng số, báo cáo phải nêu rõ nguồn, thời điểm chốt số liệu, nguyên nhân chênh lệch và người chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu sử dụng. Các phòng chuyên môn và tương đương, các Phòng THADS khu vực và Chấp hành viên phải sử dụng đúng, đầy đủ các biểu mẫu thống kê ban hành kèm theo Thông tư số 05/2026/TT-BTP. Không được tự ý thay đổi tên, ký hiệu, kết 4 cấu, thứ tự chỉ tiêu, tên chỉ tiêu, đơn vị tính, công thức tính; không thêm, bớt, gộp, tách hàng hoặc cột làm thay đổi cấu trúc, nội dung của biểu mẫu. Trường hợp cần bổ sung thông tin giải trình, phân tích hoặc nội dung phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của THADS tỉnh thì lập thành phụ lục hoặc báo cáo thuyết minh riêng, không chỉnh sửa kết cấu của biểu mẫu thống kê. Khi THADS tỉnh yêu cầu báo cáo phục vụ chỉ đạo, điều hành, các đơn vị và Chấp hành viên phải gửi đúng biểu mẫu của Thông tư số 05/2026/TT-BTP, đúng phạm vi số liệu, thời điểm chốt số liệu và thời hạn được yêu cầu. Quy trình lập, kiểm tra, tổng hợp và gửi báo cáo Chấp hành viên trực tiếp lập báo cáo đối với hồ sơ, vụ việc được phân công; tự kiểm tra, đối chiếu số liệu về việc, về tiền, số năm trước chuyển sang, số thụ lý mới, số thi hành xong, số chưa thi hành xong và các chỉ tiêu liên quan trước khi gửi Thủ trưởng đơn vị. Báo cáo phải có đầy đủ căn cứ để kiểm tra, truy xuất và giải trình. Trưởng các phòng chuyên môn và tương đương, Trưởng các Phòng THADS khu vực có trách nhiệm phân công công chức làm đầu mối theo dõi, tiếp nhận, kiểm tra và tổng hợp báo cáo thống kê của đơn vị; kiểm tra tính đầy đủ, chính xác, hợp lý và sự thống nhất giữa các biểu mẫu; đối chiếu báo cáo của từng Chấp hành viên với hồ sơ nghiệp vụ, số liệu kế toán và dữ liệu trên Nền tảng số; yêu cầu Chấp hành viên giải trình, bổ sung, điều chỉnh hoặc lập lại báo cáo khi phát hiện sai sót; kiểm soát chặt chẽ các trường hợp điều chỉnh ngày thi hành xong, trạng thái hồ sơ và số năm trước chuyển sang; gửi báo cáo về THADS tỉnh đúng biểu mẫu, đúng thời hạn và chịu trách nhiệm trước Trưởng THADS tỉnh về số liệu báo cáo của đơn vị. Báo cáo gửi về THADS tỉnh phải kèm theo bản thuyết minh, danh sách chênh lệch và tài liệu giải trình trong trường hợp số liệu chưa thống nhất hoặc có điều chỉnh. Thời hạn, phương thức gửi báo cáo thực hiện theo quy định của Thông tư số 05/2026/TT-BTP và thông báo, yêu cầu của THADS tỉnh đối với từng kỳ báo cáo. Văn phòng là đầu mối tham mưu Trưởng THADS tỉnh quản lý, hướng dẫn, theo dõi và tổng hợp công tác báo cáo thống kê trong toàn tỉnh, có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị thực hiện chế độ báo cáo thống kê; tiếp nhận, kiểm tra, thẩm tra và tổng hợp báo cáo toàn tỉnh; đối chiếu số liệu giữa các biểu mẫu, giữa báo cáo của đơn vị với dữ liệu trên Nền tảng số và các nguồn dữ liệu có liên quan; tập trung kiểm tra số năm trước chuyển sang, thời điểm thi hành xong và các trường hợp có biến động bất thường về kết quả, tỷ lệ thi hành án; yêu cầu đơn vị, Chấp hành viên giải trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu, điều chỉnh hoặc lập lại báo cáo khi số liệu chưa đầy đủ, chưa chính xác, không hợp lý hoặc có dấu hiệu bị làm sai lệch; tổng hợp khó khăn, vướng mắc, tham mưu Lãnh đạo THADS tỉnh chỉ đạo xử lý hoặc báo cáo Cục Quản lý THADS hướng dẫn; theo dõi việc chấp hành chế độ báo cáo của từng đơn vị để phục vụ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Trưởng các phòng chuyên môn và tương đương, Trưởng các Phòng THADS khu vực chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc Công văn này; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc cập nhật dữ liệu nghiệp vụ, lập và gửi báo cáo thống kê của Chấp hành viên thuộc đơn vị. Chất lượng số liệu, việc chấp hành thời hạn báo cáo và trách nhiệm giải trình là căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, người đứng đầu và cá nhân có liên quan./.
Văn phòng THADS tỉnh