Thực hiện Quyết định số 3530/QĐ-BTP ngày 15/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Chương trình công tác trọng tâm trong lĩnh vực THADS, THAHC năm 2026; Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS ngày 31/12/2025 của Cục trưởng Cục Quản lý Thi hành án dân sự về việc giao chỉ tiêu, nhiệm vụ THADS, theo dõi THAHC cho các cơ quan THADS địa phương năm 2026, sau khi tổng hợp, phân tích kết quả 05 tháng năm 2026, Cục Quản lý Thi hành án dân sự (THADS) nhận thấy cơ bản các cơ quan THADS địa phương đã chủ động triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, kết quả THADS có chuyển biến tích cực hơn so với tháng trước, tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần tập trung chỉ đạo, nhất là đối với chỉ tiêu về việc. Cụ thể:
Về việc: Toàn quốc có 478.595 việc có điều kiện thi hành, đã thi hành xong 179.307 việc, đạt tỷ lệ 37,47%. So với cùng kỳ năm 2025, số việc có điều kiện tăng 23.615 việc, nhưng số việc thi hành xong giảm 25.732 việc, làm cho tỷ lệ thi hành xong giảm từ 45,07% xuống 37,47% (giảm 7,60%).
Về tiền: Toàn quốc có 348.971 tỷ 495 triệu 800 nghìn đồng có điều kiện thi hành, đã thi hành xong 59.835 tỷ 955 triệu 198 nghìn đồng, đạt tỷ lệ 17,15%. So với cùng kỳ năm 2025, số tiền có điều kiện thi hành tăng 88.456 tỷ 488 triệu 493 nghìn đồng, số tiền thi hành xong tăng 14.528 tỷ 940 triệu 126 nghìn đồng, tuy nhiên tỷ lệ thi hành xong giảm nhẹ từ 17,39% xuống 17,15% (giảm 0,24%).
Đáng chú ý, đối với chỉ tiêu về việc, một số địa phương có số việc có điều kiện lớn nhưng tỷ lệ thi hành xong còn thấp như: Vĩnh Long (23,53%), Cần Thơ (25,74%), Tây Ninh (30,14%), Đồng Nai (31,18%), Khánh Hòa (33,43%), Hà Nội (34,10%), Lâm Đồng (35,89%), TP. Hồ Chí Minh (36,09%); đồng thời một số địa phương giảm mạnh về số việc thi hành xong so với cùng kỳ gồm: Cần Thơ, Vĩnh Long, Hà Nội, Đồng Nai, Nghệ An, Đắk Lắk. Đối với chỉ tiêu về tiền, mặc dù số thi hành xong toàn quốc tăng về số tuyệt đối nhưng vẫn có địa phương tỷ lệ thi hành xong rất thấp như: Quảng Ninh (3,21%), Cao Bằng (5,55%), Hải Phòng (8,29%), Đồng Nai (9,30%), Thái Nguyên (10,21%), Quảng Trị (10,67%), Đồng Tháp (11,20%), Huế (11,53%), Phú Thọ (11,91%); đồng thời có địa phương số tiền có điều kiện tăng nhưng số tiền thi hành xong lại giảm (như: Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Gia Lai, Phú Thọ, Lào Cai, Thanh Hóa, Vĩnh Long).
Đồng thời, đối chiếu với tiến độ thực hiện chỉ tiêu theo Quyết định giao chỉ tiêu năm 2026 (mức bình quân phải thi hành hằng tháng: về việc 7,03%, tương ứng chỉ tiêu 05 tháng 35,13%; về tiền 4,68%, tương ứng chỉ tiêu 05 tháng 23,42%) cho thấy: về việc, kết quả toàn quốc đạt 37,47% (cơ bản bảo đảm tiến độ 05 tháng), tuy nhiên vẫn còn một số địa phương chưa đạt chỉ tiêu 05 tháng (như: Cần Thơ, Đồng Nai, Hà Nội, Khánh Hòa, Tây Ninh, Vĩnh Long). Về tiền, kết quả toàn quốc đạt 17,15%, chưa đạt chỉ tiêu 05 tháng (23,42%); đa số địa phương chưa đạt tiến độ (chỉ một số địa phương đạt như: Đà Nẵng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Ngãi).
Để bảo đảm thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao năm 2026 theo đúng tiến độ, Cục Quản lý THADS yêu cầu Trưởng THADS các tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm một số nội dung sau:
1. Khẩn trương xử lý tài sản, tổ chức thi hành dứt điểm các vụ việc có điều kiện, nhất là các vụ việc có giá trị lớn, phức tạp; án tham nhũng, kinh tế; án tín dụng, ngân hàng; các vụ việc có điều kiện từ năm 2025 chuyển sang; đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để tháo gỡ vướng mắc. Trong đó, lưu ý:
- Chỉ đạo kiểm tra, rà soát 100% hồ sơ đang tổ chức thi hành của từng Chấp hành viên; kiên quyết khắc phục tình trạng để tồn hồ sơ kéo dài, không tác nghiệp, không cập nhật đầy đủ diễn biến thi hành án; kịp thời chấn chỉnh, xử lý nghiêm vi phạm (nếu có). Tập trung xử lý dứt điểm các vụ việc hoàn trả tiền, trả giấy tờ/tang vật, nhất là vụ việc giá trị nhỏ, tránh tồn đọng kéo dài ảnh hưởng kết quả và phát sinh khiếu nại.
- Từng THADS tỉnh, thành phố, nhất là các địa phương đạt kết quả thấp phải xây dựng kế hoạch chi tiết theo từng tháng, quý gắn với chỉ tiêu cụ thể cho từng đơn vị, từng Chấp hành viên làm cơ sở cho việc đánh giá, xếp loại tập thể, cá nhân theo quy định; đồng thời rà soát, lập danh sách các vụ việc trọng điểm, xác định rõ số tiền phải thi hành, tình trạng pháp lý của tài sản đảm bảo, khó khăn vướng mắc, tiến độ xử lý và trách nhiệm cá nhân, đơn vị để theo dõi, chỉ đạo riêng. Đối với các vụ việc đã bán đấu giá thành, vụ việc đã giao tài sản hoặc đủ điều kiện giao tài sản, yêu cầu lập kế hoạch chi tiết để sớm bàn giao tài sản theo đúng quy định; đối với vụ việc đã thẩm định giá/đang bán đấu giá phải tiếp tục thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đẩy nhanh tiến độ xử lý tài sản.
2. Thực hiện nghiêm chế độ báo cáo thống kê, bảo đảm số liệu chính xác, kịp thời, phản ánh đúng thực chất; tăng cường theo dõi, so sánh kết quả thi hành án theo tháng (so với tháng trước, cùng kỳ) để kịp thời có biện pháp chỉ đạo, điều hành phù hợp. Rà soát kỹ các nội dung, chỉ tiêu dễ phát sinh sai lệch và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thi hành án như: xác minh điều kiện; phân loại có điều kiện, chưa có điều kiện; số thi hành xong; số chuyển kỳ sau; các khoản thu, chi; việc, tiền liên quan xử lý tài sản (kê biên, thẩm định giá, đấu giá); trường hợp số liệu biến động bất thường, tăng, giảm lớn so với cùng kỳ hoặc so với tháng trước phải giải trình rõ nguyên nhân (khách quan, chủ quan), trách nhiệm và có biện pháp chấn chỉnh, xử lý nghiêm các vi phạm sai sót do lỗi cố ý (nếu có).
Trưởng THADS tỉnh, thành phố trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, ký báo cáo thống kê, các loại danh sách; chịu trách nhiệm trước Cục trưởng Cục Quản lý THADS về tính chính xác, trung thực, đầy đủ, kịp thời của số liệu thống kê tại các kỳ báo cáo theo quy định.
3. Trưởng THADS tỉnh, thành phố chỉ đạo Trưởng phòng Phòng THADS khu vực kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình tổ chức thi hành án của Chấp hành viên; thường xuyên kiểm soát tiến độ, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thi hành án, nhất là đối với các địa phương có kết quả thấp hơn bình quân chung toàn quốc hoặc giảm nhiều so với cùng kỳ; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh sai sót và xem xét xử lý theo quy định đối với trường hợp cố ý vi phạm, vụ lợi hoặc thiếu tích cực dẫn đến chậm trễ, kéo dài; đồng thời Trưởng THADS, các đồng chí Phó Trưởng THADS, Trưởng phòng Phòng THADS khu vực chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ của đơn vị.