Một số quy định bất cập gây khó khăn cho công tác vận động, thuyết phục người phải thi hành án.

13/12/2012


1.   Vận động, thuyết phục trong thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự thực chất là một công việc đầy khó khăn và phức tạp, điều này có lẽ chỉ có những người trong ngành với nhau mới thấu hiểu hết và chia sẽ được. Hoạt động của cơ quan Thi hành án dân sự mà chủ yếu là của Chấp hành viên là hoạt động áp dụng pháp luật. Do đó, về cơ bản các tác nghiệp của Chấp hành viên phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc áp dụng pháp luật một cách đơn giản, cứng nhắc trong một số trường hợp lại không đạt được hiệu quả mà có khi lại dẫn đến tình trạng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không thể thi hành được trên thực tế hoặc có thi hành được thì hậu quả xã hội xảy ra lại rất khó khắc phục. Điều này rất dễ nhận thấy ở những vụ cưỡng chế thi hành án lớn mà gần đây các phương tiện truyền thông đưa tin. Nói như vậy, không có nghĩa là để giải quyết được việc thi hành án, thì Chấp hành viên phải vi phạm về mặt tố tụng hay lách luật, mà thực ra là Chấp hành viên phải biết áp dụng pháp luật một cách linh hoạt uyển chuyển, bên cạch đó còn phải biết sử dụng và vận dụng thành thạo các kỹ năng trong quá trình giải quyết việc thi hành án.

Bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên và có hiệu lực pháp luật là căn cứ, cơ sở pháp lý để tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, để thi hành một cách có hiệu quả trên thực tế những bản án, quyết định đó, thì đòi hỏi Chấp hành viên phải biết kết hợp hài hòa giữa tình và lý trong quá trình giải quyết. Điều này được thể hiện rất rõ trong các kỹ năng giải quyết việc thi hành án dân sự. Một kỹ năng đặc biệt quan trọng được coi là “chiếc chìa khóa vàng” trong giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và trong quá trình giải quyết việc thi hành án nói riêng đó là kỹ năng vận động, thuyết phục. Để thực hiện tốt kỹ năng này không phải là vấn đề đơn giản, mà nó đòi hỏi Chấp hành viên phải thực sự cầu thị, có tâm với nghề. Bên cạch đó, các quy định của pháp luật cần phải  rõ ràng, minh bạch và hợp lý tạo cơ sở pháp lý để Chấp hành viên tiến hành việc vận động, thuyết phục đương sự một cách có tình có lý và đạt được hiệu quả cao nhất.

Hiện nay, về cơ bản các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đã tạo được khung pháp lý tương đối rõ ràng và cần thiết để Chấp hành viên tiến hành công tác vận động, thuyết phục trong giải quyết việc thi hành án, đó là các quy định mang tính “nội dung” và các quy định về tự nguyện thỏa thuận của đương sự. Cũng như trong thủ tục tố tụng dân sự, trong suốt quá trình thi hành án dân sự việc tự nguyện thỏa thuận của các bên đương sự luôn được pháp luật khuyến khích, tạo điều kiện và kết quả của sự thỏa thuận được pháp luật tôn trọng.

Một vấn đề cơ bản trong kỹ năng vận động, thuyết phục là Chấp hành viên phải chỉ ra cho đương sự thấy được những mặt lợi, mặt hại khi tự nguyện thỏa thuận với nhau và tự nguyện thi hành án. Ví dụ: phải giả thích cho đương sự thấy được nếu bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế, thì họ sẽ mất uy tín, mất thời gian, tốn chi phí … còn tự nguyện thi hành án, thì sẽ đảm bảo được tốt nhất quyền và lợi ích cho mình.

Trong thực tiễn cho thấy có nhiều trường hợp bản án,quyết định của Tòa án tuyên không khả thi. Nếu Chấp hành viên cứ tiến hành theo đúng các thủ tục mà pháp luật quy định để thi hành đúng theo phán quyết của Tòa án, thì không sớm thì muộn cũng sẽ đi đến chỗ bế tắc trong quá trình giải quyết. Do đó, để thi hành án được những vụ việc này Chấp hành viên cần phải vận động, thuyết phục và giải thích cho đương sự biết có thể mỗi bên phải chịu thiệt một phần so với những gì mà bản án đã tuyên để đạt được những lợi ích thực tế lớn hơn so với việc thi hành đúng theo bản án. Đây là công việc rất khó khăn vì một khi các bên đã dẫn nhau ra Tòa, thì rất khó có thể ngồi lại đàm phán với nhau để tìm ra tiếng nói chung. Mặc dù vậy, nhiều Chấp hành viên đã vận động, thuyết phục thành công các đương sự tự nguyện thi hành án. Bí quyết của sự thành công ở đây chính là nắm vững các kỹ năng về giải quyết việc thi hành án, nắm vững các quy định của pháp luật và một điều đặc biệt quan trọng là phải biết phân tích các quy định của pháp luật một cách rõ ràng, dễ hiểu và có tình có lý. Để làm được điều này có vẽ như dễ dàng đối với trình độ của một Chấp hành viên - Cử nhân Luật. Tuy nhiên, thực tế thì đây là một việc tương đối khó. Bởi vì, ngoài việc nắm vững quy định của pháp luật, thì việc giải thích các điều luật này cũng cần phải có “nghệ thuật”. Trong khi vận động, thuyết phục đương sự, chúng ta không thể giải thích luật theo kiểu chúng ta đọc luật mà cần có sự linh hoạt uyển chuyển, phải biết được cái gì cần nói trước cái gì cần nói sau, điểm nào cần nhấn mạnh và vấn đề nào cần lướt qua. Có như vậy thì việc vận động, thuyết phục mới đạt được hiệu quả cao.

Ví dụ: một quy định mới của Luật thi hành án dân sự đó là vấn đề xác minh điều kiện thi hành án. Đây là quy định mà khi một số Chấp hành viên giải thích cho người làm đơn yêu cầu thi hành án đã gặp phải sự phản đối khá gay gắt của họ. Bởi vì các Chấp hành viên này đã giải thích rằng: Theo quy định mới của Luật thi hành án dân sự thì ông/bà phải có nghĩa vụ, trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án xem họ có tài sản hay không, thì chúng tôi mới có cơ sở để nhận đơn của ông bà.

Ta thấy rằng cách giải thích trên đã xem xét việc xác minh điều kiện thi hành án trước đây là công việc của cơ quan Nhà nước còn bây giờ trách nhiệm này đã được đẩy về cho đương sự. Như vậy, đương sự họ phản đối là chuyện không thể tránh khỏi.

Tuy nhiên, cũng là quy định trên nhưng Chấp hành viên giải thích: trước đây chỉ có cơ quan Thi hành án dân sự mới được tiến hành xác minh. Nhưng hiện nay để đảm bảo tốt nhất quyền lợi của người được thi hành án nên Luật Thi hành án dân sự đã quy định cho họ được quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Quy định này giúp người được thi hành án chủ động trong việc truy tìm thông tin tài sản của người phải thi hành án, cũng như tránh được tình trạng do quá nhiều việc nên Chấp hành viên chậm tiến hành xác minh gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người được thi hành án.

Rõ ràng chúng ta thấy hai cách giải thích trên đều đúng pháp luật nhưng cách giải thích sau sẽ dễ được chấp nhận hơn vì nó đã chỉ ra cho đương sự thấy được quyền lợi của họ trong quy định mới của pháp luật.

Một yêu cầu mà thực tế đặt ra để nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án dân sự nói chung đó là phải hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Bên cạch việc hoàn thiện các quy định về mặt hệ thống, tổ chức của cơ quan Thi hành án dân sự và các quy định về trình tự thủ tục thi hành án, thì các quy định về mặt nội dung cũng rất cần thiết phải được hoàn thiện hơn vì đây là những quy định ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đương sự. Hiện nay các quy định này vẫn còn có những điểm bất cập, gây ảnh hưởng, cản trở đến quá trình tác nghiệp của Chấp hành viên và đặc biệt khó khăn cho công tác vận động thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án. Do vậy, đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác thi hành án dân sự trong thời gian vừa qua.

Trong nội dung bài viết này chúng tôi muốn đề cập đến những khó khăn, vướng mắc trong việc vận động, thuyết phục người phải thi hành án giao nhà cho người mua được tài sản bán đấu giá mà nguyên nhân phát sinh lại do chính các quy định của pháp luật gây nên.

2.   Quy định của pháp luật về các trường hợp phải kê biên nhà ở.

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án nói chung và biện pháp kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án nói riêng là biện pháp nghiêm khắc nhất mà Chấp hành viên áp dụng khi tổ chức thi hành án. Do đó, các biện pháp này cần phải được pháp luật quy định một cách chặt chẽ, rõ ràng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự đồng thời phải bảo đảm được hiệu quả của công tác thi hành án. Trong thực tế, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án. Chấp hành viên luôn phải cân nhắc kĩ lưỡng và phải tuân thủ triệt để trình tự, thủ tục do pháp luật quy định để tránh hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.

Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản được áp dụng khi người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền và mặc dù người này có điều kiện thi hành (có tài sản) nhưng không tự nguyện thi hành. Để tiến hành kê biên tài sản, Chấp hành viên hoặc người được thi hành án phải tiến hành xác minh tài sản của người phải thi hành án và khi có căn cứ cho thấy người phải thi hành án có tài sản nhưng họ không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên mới tiến hành kê biên để thi hành án.

Khoản 1 Điều 95 Luật thi hành án dân sự năm 2008 quy định về kê biên nhà ở như sau:“Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án”.

Quy định trên của Luật Thi hành án dân sự cho thấy rõ ràng có sự hạn chế đối với việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình. Việc kê biên chỉ được thực hiện khi kết quả xác minh cho thấy người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có nhưng tài sản này không đủ để thi hành phần nghĩa vụ của người phải thi hành án, trừ trường hợp họ đồng ý kê biên để thi hành án hoặc trường hợp là tài sản bảo đảm, thế chấp mà bản án quyết định của Tòa án tuyên phát mãi để thi hành án. Những hạn chế này là có chủ ý của nhà làm luật với mục đích là tôn trọng, bảo vệ nơi ở của công dân nói chung cũng như của người phải thi hành án nói riêng, nhằm tránh tình trạng lợi dụng chế định cưỡng chế kê biên nhà ở để gây khó dễ cho người phải thi hành án. Điều này, một mặt nó thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đồng thời mặt khác cũng cho thấy được tính phức tạp của việc kê biên tài sản là nhà ở.

Tuy nhiên với xu hướng hiện nay cũng như trong tương lai, thì nhà đất là một loại tài sản có giá trị lớn và ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong các giao dịch dân sự để thế chấp, bảo lãnh cho các khoản vay. Do đó, dù muốn hay không thì vẫn thường xuyên xảy ra các trường hợp mất khả năng thanh toán, nên việc phải kê biên nhà đất để thi hành án là điều không thể tránh khỏi. Hơn nữa, còn có chiều hướng ngày một tăng thêm, đặc biệt là khi mà tình hình kinh tế trong nước cũng như trên thế giới đang trong thời kì bất ổn như những năm vừa qua.

Việc kê biên, phát mãi nhà ở để thi hành án là một trong những loại việc có tính chất phức tạp, khó khăn nhất mà Chấp hành viên gặp phải trong công tác thi hành án dân sự. Đặc biệt là giai đoạn vận động, thuyết phục người phải thi hành án giao nhà cho người mua được tài sản bán đấu giá.

Quan niệm của người Á Đông nói chung và của người Việt nói riêng đều xem căn nhà, mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên hoặc do bàn tay mình tạo dựng được là nơi thân thương, có ý nghĩa tinh thần rất lớn. Do đó, về mặt tâm lý mà nói, thì không dễ gì để chấp nhận việc phải rời xa nơi này, cho dù trong thâm tâm những người phải thi hành án, họ có thể nhận thức được do chính việc làm của mình đã dẫn đến hậu quả pháp lý mà mình phải gánh chịu và họ biết không thể nào kháng cự lại các quy định của pháp luật. Mặc dù vậy, như một phản xạ tự nhiên những người buộc phải giao lại nhà đất cho người khác luôn tìm đủ mọi lý lẽ để cố níu kéo, trì hoãn việc thi hành án. Chính vì thế mà công tác vận động, thuyết phục người phải thi hành án trong trường hợp này là rất khó khăn. Mặc dù vậy, hầu hết các Chấp hành viên đều hiểu được tâm tư, tâm lý của người phải thi hành án cho nên công tác vận động, thuyết phục vẫn là biện pháp cơ bản, quan trọng được sử dụng trong suốt quá trình thi hành án. Cho nên, trong thực tế số vụ việc loại này không phải ít nhưng số vụ việc phải tiến hành cưỡng chế lại có phần được hạn chế. Điều này cho thấy hầu hết các cơ quan thi hành án và Chấp hành viên của chúng ta đã thực hiện tốt công tác vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án.

Qua thực tế công tác chúng tôi nhận thấy hiện nay Luật thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn vẫn còn có những quy định chưa hợp lý gây khó khăn cho công tác vận động, thuyết phục người phải thi hành án giao tài sản là nhà ở duy nhất cho người mua trúng tài sản bán đấu giá. Cụ thể, sự bất hợp lý này là quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật thi hành án dân sự.

Điều 115 quy định về việc cưỡng chế trả nhà, giao nhà như sau:

1. Trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ trả nhà thì Chấp hành viên buộc người phải thi hành án và những người khác có mặt trong nhà ra khỏi nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển tài sản ra khỏi nhà; nếu họ không tự nguyện thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà.

Trường hợp họ từ chối nhận tài sản, Chấp hành viên phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản và giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan Thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản.

2. Trường hợp người phải thi hành án cố tình vắng mặt mặc dù đã được thông báo quyết định cưỡng chế thì Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều này mà người có tài sản bảo quản không đến nhận thì tài sản đó được xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều 126 của Luật này, trừ trường hợp có lý do chính đáng.

4. Việc cưỡng chế để trả lại công trình xây dựng, vật kiến trúc theo bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

5. Trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm. Nghĩa vụ thi hành án còn lại được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật này.”

Nếu chúng ta xem xét điều Luật trên, cụ thể là khoản 5 một cách độc lập với các quy định khác, thì có vẻ như quy định trên là hợp lý, không có mâu thuẫn.

Ở đây chúng tôi đang đề cập đến quy định về việc trích lại một khoản tiền từ tiền bán tài sản để người phải thi hành án thuê nhà ở. Đây là một quy định thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước, chúng tôi cho rằng nó rất cần thiết và phù hợp với văn hóa, truyền thống của người Việt. Đồng thời, quy định này cũng góp phần làm giảm áp lực cho Chấp hành viên khi tiến hành cưỡng chế vì ít ra thì Chấp hành viên cũng có một khoản kinh phí để thuê nhà làm nơi chuyển tài sản và người về đây khi tiến hành cưỡng chế trục xuất, giao nhà cho người mua trúng tài sản đấu giá.

Mặc dù vậy, khi chúng ta đặt quy định này nằm trong tổng thể các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, thì nó lại trở nên bất hợp lý. Sự bất hợp lý này không phải do bản thân quy định tại khoản 5 Điều 115 gây nên, mà theo chúng tôi sự bất hợp lý này có nguyên nhân là do các quy định của chúng ta thiếu tính đồng bộ và khoa học.

Hiện nay, theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, thì chúng ta có thể có các trường hợp phải tiến hành kê biên phát mãi tài sản là nhà ở của người phải thi hành án như sau:

Điều 95. Kê biên nhà ở

1. Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án.

2. Khi kê biên nhà ở phải kê biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền sử dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn nhà.

3. Khi kê biên nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết.

Trường hợp tài sản kê biên là nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Việc kê biên nhà ở bị khoá được thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật này.”

Quy định tại Điều 95 này có thể được xem như là một điều kiện cần và chung cho các trường hợp kê biên nhà ở. Do đó, theo chúng tôi quy định tại khoản 1 của Điều luật trên là chưa hợp lý và còn thiếu vì nó chưa bao quát được hết các trường hợp kê biên nhà ở theo quy định của pháp luật hiện hành, không phải mọi trường hợp kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình đều phải tiến hành xác minh để “xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án”. Trong thực tế có những trường hợp không cần thiết phải tiến hành xác minh để xác định người phải thi hành án có hay không có tài sản khác để làm căn cứ kê biên như các trường hợp sau:

-                      Trường hợp, quyết định, bản án của Tòa án tuyên phải kê biên tài sản là nhà ở để đảm bảo thi hành án. Những trường hợp này thì trong bản án đã tuyên rõ, do đó chúng ta không thể áp dụng khoản 1 Điều 95 nêu trên, bởi vì khi xác minh tài sản mà biết được người phải thi hành án có tài sản khác phù hợp hơn để thi hành án thì Chấp hành viên cũng không thể tiến hành kê biên tài sản này, vì làm vậy sẽ trái với bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên và vi phạm Khoản 8 Điều 21 (Cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định).

-                      Trường hợp, kê biên xử lý tài sản là tài sản thế chấp, bảo lãnh. Việc kê biên xử lý tài sản trong trường hợp này cũng không cần thiết phải tiến hành xác minh các tài sản khác của người phải thi hành án bởi vì tài sản thế chấp, bảo lãnh phải được xử lý theo quy định tại Bộ Luật dân sự. Điều 355 và Điều 369 của Bộ Luật dân sự quy định về xử lý tài sản thế chấp, bảo lãnh như sau:

Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện theo quy định tại Điều 336 và Điều 338 của Bộ Luật này.

Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh.

Thực ra, theo chúng tôi hai trường hợp trên cũng là một, vì việc kê biên tài sản đều được nêu ra trong bản án, quyết định của Tòa án và khi thi hành án đều được thực hiện theo Điều 127 Luật thi hành án dân sự (Xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án: Chấp hành viên xử lý theo quy định tại các điều 98, 99, 100 và 101 của Luật này đối với tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án) nhưng chia ra hai trường hợp để dễ dàng phân biệt hơn. Trường hợp một là trường hợp Tòa tuyên trực tiếp việc kê biên tài sản của người phải thi hành án mà không xuất phát từ hợp đồng thế chấp, bảo lãnh và nó có thể được tuyên trong bản án, quyết định dân sự hoặc bản án hình sự. Còn trường hợp thứ hai là trường hợp kê biên xuất phát từ hợp đồng thế chấp, bảo lãnh và thường chỉ có trong các bản án, quyết định dân sự.

3.   Một số điểm bất cập

Như đã nêu trên, chúng ta có thể thấy quy định tại Khoản 1 Điều 95 có thể gây ra một số bất cập như:

Thứ nhất, đối với người dân, đương sự, thì nó gây nên cách hiểu không đầy đủ về các trường hợp kê biên nhà ở để thi hành án. Vì theo quy định trên thì người ta sẽ hiểu chỉ khi nào xác định được người phải thi hành án “không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án” thì Chấp hành viên mới tiến hành kê biên, xử lý tài sản của họ. Vô hình chung, quy định này đã gộp tất cả các trường hợp kê biên nhà ở vào làm một mà không loại trừ hai trường hợp mà chúng tôi vừa nêu trên. Tức là, trường hợp đương nhiên bị kê biên để thi hành án, khi đương sự không tự nguyện thi hành như quy định tại Điều 127. Cách hiểu trên có thể sẽ dẫn đến một số trường hợp Chấp hành viên bị khiếu nại về quyết định kê biên.

Thứ hai, đối với cơ quan Thi hành án dân sự và Chấp hành viên, nếu chúng ta hiểu một cách máy móc thì mọi trường hợp trước khi tiến hành kê biên nhà ở của người phải thi hành án đều phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án để xác định xem họ có tài sản nào khác hay không. Việc xác minh này trong trường hợp quyết định, bản án của Tòa án tuyên phải kê biên tài sản là nhà ở để đảm bảo thi hành án và trường hợp, kê biên xử lý tài sản là tài sản thế chấp, bảo lãnh là không cần thiết, làm mất thời gian công sức của Chấp hành viên.

Thứ ba, trở lại vấn đề trích lại một khoản tiền từ tiền bán tài sản để người phải thi hành án thuê nhà theo quy định tại Khoản 5 Điều 115. Như đã phân tích ở trên, hiện nay chúng ta có nhiều trường hợp phải kê biên nhà ở để thi hành án. Việc kê biên nhà ở trong hầu hết các trường hợp đều có thể dẫn đến việc định giá, bán đấu giá và khâu kế tiếp là giao tài sản (nhà ở) cho người trúng đấu giá. Đây là giai đoạn thường gặp phải sự phản đối gay gắt của người bị phát mãi tài sản, và lúc này cũng chính là lúc mà các Chấp hành viên cần phải vận dụng hết khả năng vận động, thuyết phục của mình để tác động làm cho họ tự nguyện giao tài sản cho người mua trúng tài sản đấu giá, hạn chế đến mức thấp nhất việc phải áp dụng biện pháp cưỡng chế. Tuy nhiên, việc vận động, thuyết phục giao nhà ở trong trường hợp này lại gặp phải một vấn đề hết sức khó khăn do chính sự bất hợp lý của các quy định pháp luật gây ra.Thứ nhất, hiện nay các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án tại Điều 73 Luật thi hành án dân sự quy định như sau:

1. Người phải thi hành án chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:

a) Chi phí thông báo về cưỡng chế thi hành án;

b) Chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án;

c) Chi phí cho việc định giá, giám định tài sản, bán đấu giá tài sản; chi phí định giá lại tài sản, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều này;

d) Chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án;

đ) Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ;

e) Tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án.

2. Người được thi hành án phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:

a) Chi phí xác minh theo quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này; chi phí định giá lại tài sản nếu người được thi hành án yêu cầu định giá lại, trừ trường hợp định giá lại do có vi phạm quy định về định giá;

b) Một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ.

3. Ngân sách nhà nước trả chi phí cưỡng chế thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Định giá lại tài sản khi có vi phạm quy định về định giá;

b) Chi phí xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp chủ động thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này;

c) Chi phí cần thiết khác theo quy định của Chính phủ;

d) Trường hợp đương sự được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.

4. Chấp hành viên dự trù chi phí cưỡng chế và thông báo cho người phải thi hành án biết ít nhất 03 ngày làm việc trước ngày cưỡng chế đã được ấn định, trừ trường hợp cần thiết phải cưỡng chế ngay. Chi phí cưỡng chế thi hành án được tạm ứng từ ngân sách nhà nước.

5. Các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án được thanh toán theo mức chi thực tế, hợp lý do Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự duyệt theo đề xuất của Chấp hành viên.

Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự nơi tổ chức việc thi hành án thực hiện xét miễn, giảm các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án.

6. Chi phí cưỡng chế thi hành án do đương sự nộp hoặc được khấu trừ vào tiền thu được, tiền bán đấu giá tài sản kê biên, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ. Sau khi xử lý tài sản hoặc thu được tiền, Chấp hành viên phải làm thủ tục hoàn trả ngay các khoản tiền đã tạm ứng trước đó.

7. Chính phủ quy định mức bồi dưỡng cho người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án; thủ tục thu, nộp, miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.”

Tại Nghị định số 58/2009/NĐ-CPngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành  án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự Điều 31 hướng dẫn thi hành Điều 73 trên như sau:

“1. Người được thi hành án có yêu cầu Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án phải trả các chi phí thực tế, hợp lý cho việc xác minh.

Chi phí xác minh điều kiện thi hành án do Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính quy định cụ thể.

2. Chi phí cần thiết khác quy định tại điểm c khoản 3 Điều 73 Luật Thi hành án dân sự bao gồm:

a) Chi phí họp bàn cưỡng chế do Chấp hành viên tổ chức họp với các cơ quan liên quan trước khi tiến hành cưỡng chế;

b) Chi phí cưỡng chế trong trường hợp không thu được tiền của người phải thi hành án;

c) Các khoản chi phí thực tế cho việc áp dụng biện pháp tạm giữ giấy tờ, tài liệu của người phải thi hành án;

d) Chi phí cho việc bố trí phiên dịch, biên dịch trong trường hợp đương sự là người thuộc dân tộc thiểu số của Việt Nam mà không biết tiếng Việt.

Các khoản chi trên được thanh toán từ ngân sách nhà nước. Mức chi do Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp thống nhất quy định.

3. Chế độ bồi dưỡng được áp dụng đối với Chấp hành viên, công chức khác làm công tác thi hành án, kiểm sát viên, cảnh sát, dân quân tự vệ, đại diện chính quyền địa phương, đại diện tổ chức xã hội trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án dân sự và đại diện tổ dân phố, trưởng thôn, già làng, trưởng bản và các lực lượng khác được huy động tham gia cưỡng chế thi hành án dân sự trong trường hợp cần thiết. Mức chi bồi dưỡng cụ thể cho người chủ trì và những người khác trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án do Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp thống nhất quy định.”

Như vậy, chúng ta thấy các quy định trên không có một quy định nào nói đến chi phí thuê nhà ở cho người phải thi hành án khi phải cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của họ và gia đình cho người khác. Trong khi đó, thực tiễn thi hành án cho thấy trước khi tiến hành cưỡng chế giao nhà (thông thường là cưỡng chế bằng biện pháp trục xuất người và tài sản ra khỏi nhà) Chấp hành viên phải tìm thuê nhà trọ, nơi ở tạm để làm nơi cất giữ tài sản và nơi ở cho người bị cưỡng chế. Mặc dù hiện nay pháp luật không quy định bắt buộc Chấp hành viên phải thuê nơi ở tạm cho người bị cưỡng chế bằng biện pháp trục xuất. Tuy nhiên, chúng ta không thể chỉ thuê nơi quản lý tài sản, còn người bị cưỡng chế và gia đình của họ muốn đi đâu thì đi. Nếu làm như vậy sẽ ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương. Do đó, chắc chắn sẽ gặp phải sự phản đối, không đồng thuận của chính quyền địa phương nơi diễn ra cưỡng chế. Vì vậy, dù muốn hay không thì trước khi tiến hành cưỡng chế Chấp hành viên cũng phải thuê nhà để bảo quản tài sản và nơi ở cho người bị cưỡng chế. Vấn đề đặt ra là Chấp hành viên phải lấy tiền ở đâu để thuê nơi ở tạm cho người phải thi hành án và gia đình của họ, nếu không được trích ra từ số tiền bán tài sản?

Thứ hai, pháp luật về thi hành án dân sự chỉ quy định trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm khi đáp ứng được các điều kiện:

-                      Phải là trường hợp cưỡng chế giao nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá.

-                      Xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới.

Ngoài ra, không có một trường hợp nào khác được trích lại khoản tiền này. Điều này rõ ràng là không hợp lý, vì:

Một là, những trường hợp đương sự tự nguyện giao nhà, đúng ra là phải được pháp luật khuyến khích, thì lại không được hỗ trợ tiền thuê nhà, còn trường hợp bị cưỡng chế thì lại được hỗ trợ. Đây là vấn đề rất khó khăn cho Chấp hành viên khi tiến hành vận đông, thuyết phục đương sự. Như chúng ta đã biết, để việc vận động, thuyết phục có hiệu quả thì chúng ta phải chỉ ra cho đương sự thấy được những lợi ích thực tế, lợi ích vật chất khi họ tự nguyện thi hành án. Muốn như vậy, thì pháp luật cần phải có những quy định mang tính khuyến khích, hỗ trợ đối với những người tự nguyện thi hành án nói chung và những người tự nguyện giao nhà nói riêng, tạo cơ sở cho Chấp hành viên thực hiện việc vận động, thuyết phục có hiệu quả. Quy định thiếu đồng bộ dẫn đến sự bất hợp lý như hiện nay đã làm cho vấn đề giao nhà cho người mua tài sản bán đấu giá vốn đã có nhiều khó khăn nay lại càng thêm khó khăn và có thể phát sinh thêm nhiều rủi ro.

Hai là, trường hợp cưỡng chế giao nhà của người bảo lãnh cho người mua được tài sản bán đấu giá, mặc dù là nhà ở duy nhất của họ, thì cũng không được xem xét trích lại một khoản tiền để họ thuê nhà. Vì Khoản 5 Điều Luật trên chỉ quy định đối với người phải thi hành án (theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng người bảo lãnh khi bị kê biên tài sản bảo lãnh để thi hành án, thì họ đương nhiên đã chuyển từ tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trở thành người phải thi hành án. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề này đang có nhiều ý kiến khác nhau).

Để khắc phục tình trạng khó khăn trên, trong thực tế hiện nay Chấp hành viên một mặt phải vận động, thuyết phục người phải giao nhà tự nguyện giao, mặt khác lại phải vận động, thuyết phục người được thi hành án hỗ trợ cho người phải thi hành án một khoản tiền để họ thuê chỗ ở mới. Tuy nhiên, việc này không phải dễ, hơn nữa nếu làm không khéo thì Chấp hành viên còn bị cho là có dấu hiệu tiêu cực hoặc gây khó khăn cho người được thi hành án. Bên cạch đó trong trường hợp phải tiến hành cưỡng chế thì Chấp hành viên còn phải đối mặt với một số rui ro về mặt pháp lý khác như:  Hợp đồng thuê nhà ở và bảo quản tài sản là do Chấp hành viên đứng tên ký với chủ nhà, nếu khi hết hạn hợp đồng mà người phải thi hành án không trả lại nơi ở cho chủ nhà, thì hậu quả pháp lý này giải quyết như thế nào?.

Trên đây là một số khó khăn do các quy định mang tính nội dung thiếu đồng bộ của pháp luật về thi hành án dân sự gây nên, mà Chấp hành viên có thể sẽ gặp phải trong quá trình giả quyết việc thi hành án. Đặc biệt là trong khi thực hiện kỹ năng vận động, thuyết phục để người bị phát mãi nhà ở giao nhà của họ cho người mua trúng tài sản bán đấu giá.

Những bất cập trên cần sớm được khắc phục nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự cũng như để thể hiện được tính rõ ràng, nhất quán trong các quy định của pháp luật.

4.   Kiến nghị:

Thứ nhất, nên bổ sung thêm trường hợp Tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án”vào những trường hợp loại trừ tại Khoản 1 Điều 95 Luật thi hành án dân sự. Như vậy, Khoản 1 sẽ có nội dung đầy đủ như sau: Việc kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án hoặc người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ởđể thi hành án”.

Quy định như vậy sẽ chặt chẽ hơn, bao quát được các trường hợp kê biên nhà ở và tránh được cách hiểu không thống nhất như hiện nay.

Thứ hai, quy định một cách đồng bộ và hợp lý hơn về việc trích lại một khoản tiền từ tiền bán tài sản để người phải thi hành án thuê nhà ở tạm theo hướng mở rộng đối tượng được hỗ trợ như sau:

Trường hợp người phải thi hành án (kể cả người bảo lãnh) phải giao nhà là nhà ở duy nhất của họ cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm đối với trường hợp người phải thi hành án tự nguyện giao nhà và 06 tháng đối với trường hợp phải cưỡng chế giao nhà.

Quy định này cần phải được tách thành một điều luật riêng, không nên để nằm trong Điều 115 như hiện nay. Bởi vì Điều 115 chỉ quy định riêng cho trường hợp cưỡng chế giao nhà. Còn quy định về việc trích lại một khoản tiền từ tiền bán tài sản để người phải thi hành án thuê nhà ở nên được xem xét như một chính sách pháp luật trong thi hành án dân sự.

Chúng tôi cho rằng quy định một cách đồng bộ (cả trường hợp tự nguyện và trường hợp phải cưỡng chế giao nhà) đồng thời mở rộng phạm vi đối tượng được hỗ trợ như vậy mới hợp lý, thể hiện được đầy đủ chính sách nhân đạo của pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của đương sự, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho Chấp hành viên thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, đặc biệt là trong việc vận động thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án nói chung và trong việc giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá nói riêng.

Hồ Quân Chính

Chi cục THADS quận Thủ Đức