Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị quyết số 129/2024/QH15 ngày 08/6/2024 của Quốc hội khóa XV về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2025; Nghị quyết số 75/2025/UBTVQH15 ngày 26/3/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh Chương trình lập pháp năm 2025, Cục Quản lý thi hành án dân sự (THADS) được Lãnh đạo Bộ Tư pháp giao tham mưu xây dựng dự án Luật THADS (sửa đổi). Ngày 05/12/2025, Quốc hội Khóa XV đã thông qua Luật THADS (sửa đổi) số 106/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Đây là dấu mốc quan trọng của toàn hệ thống THADS nhằm thể chế hóa, triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, tháo gỡ những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc sau 17 năm thi hành Luật THADS hiện hành.
I. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT
1. Quan điểm chỉ đạo
1.1. Thể chế hoá đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, kiểm soát quyền lực trong hoạt động THADS và các chính sách trong hồ sơ Đề nghị xây dựng Luật THADS đã được Chính phủ thông qua
[1] và bổ sung
[2], cụ thể:
- Chính sách 1: Quy định đầy đủ phạm vi bản án, quyết định do cơ quan THADS tổ chức thi hành, hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản trong THADS.
- Chính sách 2: Hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự, người tham gia THADS khác.
- Chính sách 3: Hoàn thiện tổ chức, hoạt động của hệ thống cơ quan THADS; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THADS, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, người có thẩm quyền trong THADS; vai trò, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan khác trong THADS.
- Chính sách 4: Hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí, nâng cao hiệu quả THADS.
- Chính sách 5: Tăng cường các điều kiện bảo đảm, đáp ứng yêu cầu quản lý và hoạt động THADS.
1.2. Kế thừa có chọn lọc các quy định còn phù hợp, đã được thực tiễn kiểm nghiệm; đồng thời sửa đổi, bổ sung những quy định bất cập, hạn chế từ thực tiễn tổng kết 17 năm thi hành Luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp; tính khả thi, thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến công tác THADS.
1.3. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác THADS, xây dựng khung pháp lý nhằm rút ngắn thời gian tổ chức thi hành án, giảm thiểu chi phí ngân sách nhà nước, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan trong THADS, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động THADS với cơ chế bảo đảm và lộ trình phù hợp.
1.4. Nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước, thông lệ quốc tế về THADS, phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và hoạt động THADS ở Việt Nam.
1.5. Tuân thủ trình tự, thủ tục lập pháp; thực hiện đúng chỉ đạo, yêu cầu của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước về đổi mới tư duy trong công tác xây dựng pháp luật
[3].
1.6. Đảm bảo thể chế hóa, nội luật hóa, tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
2. Quá trình xây dựng Dự án Luật
Dự án Luật được xây dựng với trình tự, thủ tục chặt chẽ theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể như sau:
- Rà soát, tổ chức tổng kết, đánh giá việc thực hiện Luật THADS hiện hành và nghiên cứu pháp luật về THADS của một số nước trên thế giới.
- Thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập với sự tham gia của đại diện các bộ, ngành Trung ương và các tổ chức, địa phương. Ban soạn thảo, Tổ biên tập đã tổ chức nhiều cuộc họp để xây dựng, soạn thảo, cho ý kiến về dự thảo Luật.
- Tổ chức các hoạt động phục vụ cho việc nghiên cứu xây dựng Luật, tổ chức các tọa đàm, hội thảo với các chuyên gia về các nội dung của dự thảo Luật.
- Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự tác động của văn bản để xây dựng, hoàn thiện dự thảo Luật: đăng tải hồ sơ dự án Luật theo quy định; gửi lấy ý kiến bằng văn bản của các bộ, ngành, địa phương và cơ quan, tổ chức liên quan. Các ý kiến đóng góp đã được Bộ Tư pháp nghiên cứu, tiếp thu, giải trình.
- Dự án Luật đã được Chính phủ thông qua và trình Quốc hội theo các Tờ trình số 641/TTr-CP ngày 21/7/2025 và Tờ trình số 726/TTr-CP ngày 28/8/2025.
- Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội đã tiến hành thẩm tra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thảo luận, cho ý kiến và tổ chức Hội nghị đại biểu chuyên trách để đóng góp hoàn thiện dự án Luật.
- Ngày 05/12/2025, Quốc hội Khóa XV đã thông qua dự thảo Luật THADS (sửa đổi) với tỷ lệ tán thành rất cao.
II. BỐ CỤC CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)
Luật THADS (sửa đổi) gồm 05 Chương, 116 điều, cụ thể: Chương I. Quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 16); Chương II. Hệ thống THADS và Văn phòng THADS (từ Điều 17 đến Điều 31); Chương III. Thủ tục, biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án dân sự (từ Điều 32 đến Điều 95); Chương IV. Khiếu nại, tố cáo, kháng nghị, kiến nghị (từ Điều 96 đến Điều 113); Chương V. Điều khoản thi hành (từ Điều 114 đến Điều 116).
III. NỘI DUNG MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)
Những điểm mới nổi bật của Luật THADS (sửa đổi) tập trung vào 05 nhóm vấn đề lớn sau đây:
1. Thể chế hóa chủ trương của Đảng về tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống thi hành án dân sự, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả
1.1. Thể chế hóa Kết luận số 162-KL/TW ngày 06/6/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư thông qua Đề án “Tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy hệ thống THADS bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả”
Theo đó, hệ thống THADS được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương, bao gồm: Cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp và 34 cơ quan THADS tỉnh, thành phố, trong đó có 355 Phòng THADS khu vực. Các Phòng THADS khu vực được đặt tương đồng, thống nhất với 355 Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân khu vực
(thống nhất về số lượng, thống nhất về phạm vi thẩm quyền hoạt động, thống nhất về địa điểm đặt trụ sở và tương đồng về tên gọi).
1.2. Quy định rõ về vị trí, vai trò của cơ quan quản lý THADS trong Luật
- Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước, tổ chức thi hành pháp luật về thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên theo quy định của pháp luật.
Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, trụ sở và tài khoản riêng.
- Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, trụ sở và tài khoản riêng.
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
Đây là những quy định trước đây được quy định tại Nghị định, việc đưa cơ quan quản lý THADS vào Luật đã thể hiện rõ vị trí, vai trò của cơ quan quản lý THADS nói riêng và hệ thống THADS nói chung.
1.3. Quy định rõ về vị trí, vai trò của cơ quan thi hành án dân sự trong Luật
- Cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan có chức năng tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định của Luật này và quy định của pháp luật có liên quan.
- Cơ quan thi hành án dân sự có Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, trụ sở và tài khoản riêng. Người đứng đầu cơ quan thi hành án dân sự là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tên gọi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan thi hành án cấp quân khu.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THADS cơ bản giữ nguyên Luật hiện hành, đồng thời, có bổ sung nhiều nhiệm vụ liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS nhằm thực hiện đồng bộ, hiệu quả, kịp thời chủ trương của Đảng.
1.4. Quy định về cơ cấu tổ chức của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trong Luật
Theo đó, cơ cấu tổ chức của cơ quan THADS tỉnh, thành phố bao gồm các đơn vị sau đây:
- Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án dân sự;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực;
- Các đơn vị cấp phòng khác.
1.5. Quy định chức danh mới Chấp hành viên trưởng của Phòng Thi hành án dân sự khu vực
Mục tiêu của Đề án
“Tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy hệ thống THADS bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả” là nhằm bảo đảm tập trung nguồn lực cho các Phòng THADS khu vực cho công tác tổ chức thi hành án; cơ quan THADS tỉnh, thành phố quản lý, chỉ đạo chung, tập trung, thống nhất trong toàn tỉnh, thành phố.
Để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động THADS của các Phòng THADS khu vực, Luật đã bổ sung chức danh Chấp hành viên trưởng và quy định Trưởng phòng Phòng THADS khu vực đồng thời là Chấp hành viên trưởng với các lý do như sau:
Thứ nhất, Chấp hành viên trưởng là chức danh tư pháp được giao cho người đứng đầu Phòng THADS khu vực, giữ ngạch Chấp hành viên trung cấp trở lên, có các nhiệm vụ quyền hạn thực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn theo ủy quyền, phân công của Thủ trưởng của cơ quan THADS; phân công nhiệm vụ tổ chức thi hành án cho các Chấp hành viên thuộc Phòng THADS khu vực; hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn, nghiệp vụ tổ chức thi hành án đối với Chấp hành viên tại Phòng THADS khu vực…
Thứ hai, theo quy định của Luật THADS, Chấp hành viên là chức danh tư pháp, do Nhà nước bổ nhiệm để tổ chức thi hành án và chịu trách nhiệm về các hoạt động THADS. Bên cạnh đó, THADS hiện được xác định là hoạt động tư pháp, có tính độc lập tương đối, khác với các hoạt động hành chính, chuyên môn khác. Trưởng phòng THADS là chức danh quản lý, lãnh đạo về hành chính, không có chức năng chỉ đạo các hoạt động tư pháp.
Do đó, cần có người chịu trách nhiệm về chuyên môn và chỉ đạo chuyên môn đối với hoạt động THADS của Chấp hành viên. Chức danh Chấp hành viên trưởng, Trưởng Phòng THADS khu vực là “cánh tay nối dài” của Thủ trưởng cơ quan THADS trong điều kiện số lượng vụ việc lớn, địa bàn rộng như hiện nay sẽ đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời trong giải quyết việc THADS cho người dân và doanh nghiệp.
Mặt khác, chức danh này còn đảm bảo sự nhanh chóng, kịp thời, tương xứng trong phối hợp với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết các vấn đề phát sinh trong THADS trên địa bàn theo quy định của pháp luật về THADS, về tố tụng và các quy định khác.
Thứ ba, thực tế khi triển khai việc chuyển giao công tác từ Tòa án nhân dân sang Chính phủ quản lý (tháng 6/1993), khi đó Phòng THADS là một phòng chuyên môn thuộc Sở Tư pháp nên Pháp lệnh THADS năm 1993 cũng đã quy định Trưởng Phòng THADS là Chấp hành viên trưởng (Điều 15 Pháp lệnh THADS năm 1993 và các Điều 13, Điều 14 Nghị định số 30-CP ngày 02/6/1993 của Chính phủ về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hành của cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên). Quy định này đã đảm bảo các chỉ đạo về hoạt động hành chính không lấn sân vào hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ THADS.
1.6. Quy định về việc phân công, ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan THADS cho Phó Thủ trưởng cơ quan THADS và người đứng đầu các đơn vị chuyên môn
- Giữ nguyên quy định về việc Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công hoặc ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao.
- Bổ sung quy định về việc Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể phân công, ủy quyền cho người đứng đầu các đơn vị trực thuộc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp không được ủy quyền theo quy định của pháp luật.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của việc phân công, ủy quyền và kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân công, ủy quyền, trừ trường hợp người được phân công, ủy quyền thực hiện không đúng nội dung, phạm vi, thời hạn đã được phân công, ủy quyền.
Người được phân công, ủy quyền phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đã được ủy quyền và chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân công, ủy quyền.
Chính phủ sẽ quy định chi tiết những trường hợp không được ủy quyền, trong đó cơ bản sẽ rà soát và thể chế hóa các Công văn hướng dẫn sau sắp xếp của Bộ Tư pháp để nghiên cứu, đề xuất phù hợp.
2. Quy định cơ chế “gửi lại yêu cầu thi hành án”.
Một trong những điểm mới nổi bật của Luật THADS (sửa đổi) là quy định về việc gửi lại yêu cầu thi hành án. Theo đó, tại khoản 4 Điều 38 đã bổ sung quy định hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh định kỳ (xác minh lại) mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án.
Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại theo quy định tại Điều 34 khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành hoặc có quyền yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự thi hành án theo quy định tại Điều 31.
3. Về quản lý kho vật chứng
Theo quy định của Luật THADS và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành thì cơ quan THADS thực hiện nhiệm vụ quản lý kho vật chứng trong giai đoạn xét xử, thi hành án. Mặc dù quy định này có những ưu điểm nhất định nhưng việc tồn tại song song kho vật chứng của Công an nhân dân và cơ quan THADS sẽ dẫn đến bị phân tán địa điểm, gây khó khăn trong việc tiếp nhận, bảo quản, xử lý vật chứng; thiếu đồng bộ.
Quy định như hiện nay cũng sẽ dễ dẫn đến hư hỏng, thất lạc và phát sinh chi phí lớn để bảo quản, vận chuyển, thuê nhân lực cho ngân sách nhà nước; công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa thật hiệu quả; công tác bảo vệ của cơ quan THADS gặp nhiều khó khăn đối với một số vật chứng là tài sản đặc thù như: ma túy, chất dễ cháy nổ…
Do đó, Luật đã sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 1 Điều 90 của Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng:
“
đ) Vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
Sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, vật chứng tiếp tục được bảo quản, lưu giữ tại nơi đang bảo quản; cơ quan thi hành án dân sự thực hiện các thủ tục kiểm kê, tiếp nhận, niêm phong vật chứng trong giai đoạn thi hành án và xử lý theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Trường hợp vật chứng đang được bảo quản tại kho thuê thì cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm thanh toán chi phí thuê kho kể từ thời điểm tiếp nhận đến khi tiêu hủy, trả lại tài sản hoặc giao cho cơ quan tài chính cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã để sung quỹ nhà nước hoặc xử lý xong theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.”.
Với việc sửa đổi, bổ sung quy định này, việc quản lý, bảo quản vật chứng sẽ được thống nhất về một đầu mối, đảm bảo an toàn và tiết kiệm cho ngân sách nhà nước.
Đồng thời, Luật cũng quy định về điều khoản chuyển tiếp đối với thay đổi liên quan đến trách nhiệm bảo quản vật chứng, cụ thể như sau: Vật chứng đã được cơ quan thi hành án dân sự tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với vật chứng đã được cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố tiếp nhận và đang bảo quản tại các kho vật chứng không thuộc khuôn viên trụ sở cơ quan thi hành án dân sự thì Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính phối hợp thực hiện việc chuyển giao các kho vật chứng cùng vật chứng đang bảo quản tại kho về Bộ Công an để quản lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2028.
4. Về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số mạnh mẽ trong hoạt động thi hành án dân sự
Thể chế hóa Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Luật THADS (sửa đổi) đã bổ sung nhiều quy định ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS (như: Điều 5 ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS, Điều 9 về điều kiện bảo đảm cho công tác THADS, Điều 35 về thông báo qua phương tiện điện tử, Điều 37 về ứng dụng công nghệ thông tin trong xác minh, Điều 54 về thanh toán qua chuyển khoản...); trong đó nổi bật là Luật đã dành riêng một điều riêng để quy định về Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong THADS. Theo đó:
- Bổ sung quy định cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và ngược lại.
- Bổ sung quy định các thủ tục về thi hành án dân sự theo quy định của Luật này được thực hiện trực tiếp hoặc trên môi trường số được công nhận theo quy định của pháp luật. Văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến thi hành án dân sự được lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, ký số, gửi, nhận, lưu trữ, xử lý, chia sẻ trên môi trường số bảo đảm theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin dưới dạng giấy, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Bổ sung quy định văn bản, hồ sơ, tài liệu trong Luật bao gồm văn bản, hồ sơ, tài liệu giấy và văn bản, hồ sơ, tài liệu điện tử
- Quy định về thông báo thi hành án trên môi trường số; xác minh điều kiện thi hành án thông qua kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành; việc chuyển giao bản án, quyết định, gửi hồ sơ thi hành án theo yêu cầu có thể thực hiện trên môi trường số; bổ sung phương thức thanh toán tiền thi hành án qua chuyển khoản hoặc phương tiện thanh toán khác…
- Để tạo cơ sở pháp lý triển khai thực hiện các nhiệm vụ về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS, Luật quy định một số điều khoản có hiệu lực sớm (ngày 20 tháng 01 năm 2026), bao gồm quy định liên quan đến chuyển đổi số, giá trị pháp lý của các thủ tục trên môi trường số, trách nhiệm kết nối, chia sẻ của các cơ quan trong THADS..., như: khoản 9 và khoản 11 Điều 3; Điều 5; điểm g khoản 2 Điều 11; điểm đ khoản 2 Điều 12; khoản 8 và khoản 9 Điều 20; khoản 7 và khoản 8 Điều 21 và khoản 8 Điều 27.
5. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp của chính quyền địa phương; trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động thi hành án dân sự theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp
5.1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp của chính quyền địa phương trong THADS
- Quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh trong công tác THADS
+ Thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên tại địa phương theo quy định của Chính phủ;
+ Chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn, giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự;
+ Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự;
+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại liên quan đến tổ chức và hoạt động của văn phòng THADS, Thừa hành viên theo quy định;
- Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong THADS, bao gồm:
+ Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên trong việc vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án, thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên địa bàn;
+ Giải quyết kịp thời những kiến nghị, vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật;
+ Cung cấp thông tin, điều kiện thi hành án theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên;
+ Tham gia và phối hợp tổ chức cưỡng chế thi hành án trên địa bàn theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên;
+ Tham gia Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản theo đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự; tiếp nhận, xử lý vật chứng, tài sản sung quỹ nhà nước và bảo quản tài sản theo quy định của Luật này;
5.2. Rà soát, hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong THADS
Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong THADS được quy định tại Điều 11 và Điều 13. Trong đó có bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong trường hợp đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì phải giải quyết theo thủ tục rút gọn đối với yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành.
5.3. Rà soát, hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan công an trong THADS
- Luật THADS hiện hành mới có quy định về việc cơ quan công an sẽ phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan THADS có thể gặp phải sự chống đối, cản trở của người phải thi hành án ở tất cả các giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án, chứ không phải chỉ khi cưỡng chế. Từ việc thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thẩm định giá đến xem tài sản để thực hiện việc định giá tài sản, hay việc xem tài sản khi đưa tài sản ra bán đấu giá…đều gặp phải sự chống đối của người phải thi hành án. Do đó, Luật THADS (sửa đổi) đã thay đổi cách tiếp cận. Đó là cơ quan công an sẽ không chỉ “bảo vệ cưỡng chế thi hành án”, mà còn “bảo vệ trật tự, an toàn xã hội trong toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án” trong trường hợp có sự chống đối, cản trở việc thi hành án.
- Sửa đổi quy định trách nhiệm chính của trại giam, trại tạm giam theo hướng:
Trại giam, trại tạm giam nơi người phải thi hành án, người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù phối hợp trong việc thông báo về thi hành án, cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ, tiền, tài sản, thu, trả tiền, tài sản liên quan đến phạm nhân là người phải thi hành án, người được thi hành án.
Nội dung này, sẽ được quy định chi tiết hơn tại Nghị định của Chính phủ.
5.4. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khác có liên quan trong THADS
- Quy định chung tại Điều 14 về Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan thuế, cơ quan Công an, cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm thực hiện kịp thời các quyết định về thi hành án, văn bản, yêu cầu, đề nghị của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên trong việc xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án và các thủ tục thi hành án khác theo quy định của pháp luật.
- Tại một số Điều luật cụ thể cũng đã quy định về trách nhiệm của các cơ quan này trong xác minh điều kiện thi hành án, thực hiện các quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế của cơ quan THADS.
6. Về kiểm sát thi hành án dân sự
- Xác định rõ thẩm quyền kiểm sát, kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân các cấp đối với hoạt động tổ chức thi hành án của cơ quan THADS, Chấp hành viên, văn phòng THADS, Thừa hành viên.
- Quy định rõ thời hạn kháng nghị đối với các vụ việc thi hành án đã kết thúc, cụ thể:
Trường hợp việc thi hành án đã kết thúc thì thời hạn kháng nghị là 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát có thẩm quyền nhận được thông báo về kết thúc việc thi hành án.
- Sửa đổi quy định về trình tự, thủ tục trả lời kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân để phù hợp với mô hình tổ chức cơ quan THADS một cấp tại địa phương và các quy định liên quan đến xã hội hóa hoạt động THADS tại Luật.
7. Bổ sung quy định xử lý khoản tiền đã tạm thu trong nhiều năm nhưng chưa có phương án giải quyết
Theo đó đã quy định: Đối với khoản tiền đã tạm thu trước khi có bản án, quyết định của Tòa án mà sau 05 năm kể từ ngày tạm thu không nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thủ tục sung công. Sau khi sung công, trường hợp nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thoái thu theo quy định của pháp luật để thi hành theo nội dung bản án, quyết định.
Đối với khoản tiền đã tạm thu nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2026 mà cơ quan thi hành án dân sự vẫn chưa nhận được bản án, quyết định thì được xử lý theo quy định tại khoản này.
8. Đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí tổ chức thi hành án
Luật THADS (sửa đổi) tiếp tục kế thừa quy định về trình tự, thủ tục lớn, cơ bản của Luật THADS hiện hành, bao gồm các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế. Tuy nhiên, từng thời hạn, thủ tục trong quy trình tổ chức thi hành án đã được rà soát để “đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí” theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, cụ thể:
8.1. Về việc ra quyết định thi hành án (Điều 33, 34)
- Bổ sung trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án đối với
“Khoản tiền bồi thường cho tổ chức, cá nhân mà cơ quan thi hành án dân sự đã thu và được tuyên trong bản án, quyết định”.
- Bổ sung trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án đối với bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật. Đây là quy định “mở” để dự phòng các trường hợp pháp luật quy định, ví dụ trường hợp theo Nghị quyết số 205/2025/QH15 của Quốc hội về việc thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công.
- Bổ sung quy định về “trường hợp pháp luật có quy định điều kiện để bản án, quyết định được thi hành thì thời hạn ra quyết định thi hành án là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin về điều kiện đó”. Đây là quy định nhằm giải quyết vướng mắc trong việc thi hành phán quyết trọng tài mà cần xác định phán quyết đó có đang bị yêu cầu huỷ phán quyết hay không.
8.2. Về xác minh điều kiện thi hành án
- Giảm thời hạn xác minh lần đầu từ 10 ngày xuống 09 ngày.
- Bổ sung quy định việc xác minh điều kiện thi hành án được thực hiện trên môi trường số, trực tiếp hoặc bằng văn bản theo quy định của pháp luật. Trường hợp xác minh trên môi trường số, Chấp hành viên có quyền khai thác thông tin từ các cơ sở dữ liệu về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án khác của người phải thi hành án.
- Quy định rõ cơ quan thi hành án dân sự có thể xác minh ngoài địa bàn tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở hoặc ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự khác nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minh điều kiện thi hành án.
- Bổ sung quy định cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật thì không phải chịu chi phí.
- Bổ sung quy định Chấp hành viên có quyền tự mình thực hiện hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện việc mở khóa, mở gói; đo đạc tài sản hoặc các biện pháp cần thiết khác để thực hiện việc xác minh.
Trường hợp đương sự hoặc những người khác có hành vi cản trở, chống đối việc xác minh, xem xét, kiểm tra hiện trạng tài sản thì Chấp hành viên đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức có liên quan yêu cầu người đó chấm dứt hành vi cản trở, chống đối hoặc tạm thời rời khỏi nơi có tài sản để thực hiện việc xác minh.
8.3. Về thông báo thi hành án
- Quy định rõ các loại văn bản cần thông báo bao gồm: quyết định về thi hành án, thông báo, giấy triệu tập về thi hành án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải được thông báo cho họ để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.
- Quy định các hình thức thông báo bao gồm:
+ Thông báo trên môi trường số hoặc qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo;
+ Niêm yết công khai;
+ Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Bổ sung quy định trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài mà không xác định được địa chỉ, nơi cư trú của họ ở nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện trên môi trường số.
- Bổ sung quy định về các hình thức thông báo trong trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ở Việt Nam mà xác định được địa chỉ của họ ở nước ngoài.
- Chính phủ sẽ quy định cụ thể hơn về việc lựa chọn từng hình thức thông báo trong các trường hợp cụ thể.
8.4. Về xác định tài sản và xử lý tranh chấp tài sản của người phải thi hành án
- Rút ngắn thời hạn đương sự yêu cầu xác định, phân chia tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án từ 45 ngày xuống còn 30 ngày.
- Đồng thời, bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong trường hợp đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì phải giải quyết theo thủ tục rút gọn đối với yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành.
- Bổ sung quy định trường hợp Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định, phân chia, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng theo quy định mà Chấp hành viên không thể thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập.
8.5. Quy định rõ hơn về việc xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án
Sửa đổi quy định về thủ tục
xử lý tài sản mà bản án, quyết định hình sự tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án theo hướng Chấp hành viên xử lý tài sản theo hiện trạng thực tế tài sản (nếu tài sản thay đổi sau khi có bản án) nhằm rút ngắn thời gian, thủ tục để bảo đảm thu hồi tối đa tài sản cho Nhà nước.
8.6. Sửa đổi quy định về thủ tục thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo hướng xác định đúng bản chất của các biện pháp khẩn cấp tạm thời để đưa ra phương án tổ chức thi hành phù hợp, cụ thể:
Quy định theo hướng nhanh gọn, phù hợp với tính chất phải kịp thời của loại quyết định này như:
(i) Đối với phần lớn các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, sau khi cơ quan THADS ra quyết định thi hành án, Chấp hành viên chỉ thực hiện thủ tục thông báo quyết định thi hành án là hoàn thành việc thi hành án;
(ii) Không quy định thủ tục áp dụng các biện pháp bảo đảm để thi hành quyết định khẩn cấp tạm thời về cấm chuyển dịch tài sản, phong tỏa tài khoản vì không cần thiết, bản chất các loại quyết định khẩn cấp tạm thời này đã là các biện pháp bảo đảm thi hành án, không phát sinh thủ tục tổ chức thi hành nên chỉ cần thực hiện thông báo theo thủ tục chung;
(iii) Không quy định phải thực hiện thủ tục kê biên, xử lý tài sản để thi hành quyết định khẩn cấp tạm thời về cho thu hoạch, bán hoa màu, từ đó cắt giảm được thời gian tổ chức thực hiện công việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản...
8.7. Xác định rõ phương án xử lý đối với từng loại quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, cụ thể:
- Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đang được thi hành thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án.
- Trường hợp bản án, quyết định đã bị hủy thì cơ quan THADS sẽ ra quyết định đình chỉ thi hành án đối với phần bị hủy (toàn bộ hoặc một phần), trừ những phần đã thi hành xong.
- Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định thì việc thi hành án được thực hiện theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án và quyết định sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án đã ban hành phù hợp với nội dung quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Việc giải quyết hậu quả đối với phần bản án, quyết định đã được thi hành xong nhưng bị hủy được thực hiện theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm và bản án, quyết định mới.
8.8. Về áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án
- Biện pháp phong tỏa tài khoản:
+ Quy định biện pháp phong tỏa tài khoản không chỉ được áp dụng với tiền trong tài khoản mà còn được áp dụng với tài sản số, tài sản khác trong tài khoản.
+ Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản phải
thực hiện phong tỏa tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án; trường hợp số tiền, giá trị tài sản trong tài khoản ít hơn nghĩa vụ của người phải thi hành án hoặc không xác định được giá trị tài sản trong tài khoản thì phong tỏa toàn bộ số tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản.
- Sửa tên, phạm vi biện pháp “
tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản” thành “
Tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản”.
Quy định trách nhiệm của người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản: “
không được thực hiện việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, để thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng tài sản và các giao dịch khác đối với tài sản đó; gây hư hỏng, đánh tráo, làm mất, hủy hoại tài sản thay đổi kết cấu, thay đổi hiện trạng tài sản cho đến khi nhận được quyết định khác của Chấp hành viên.
Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên dẫn đến đương sự chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thực hiện các giao dịch về tài sản hoặc thay đổi hiện trạng tài sản thì bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
- Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ cơ bản giữ như quy định hiện hành
- Bổ sung biện pháp “
tạm hoãn xuất cảnh” thuộc thẩm quyền áp dụng của Thủ trưởng cơ quan THADS. Quy định rõ người phải thi hành án chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án theo bản án, quyết định thì có thể bị tạm hoãn xuất cảnh, trừ các trường hợp:
+ Có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đồng ý để cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản để thi hành án, đồng thời đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó;
+ Nghĩa vụ thi hành án đã được chuyển giao theo quy định của Luật;
+ Khi người phải thi hành án bị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định dẫn độ theo quy định của Luật Dẫn độ;
+ Trường hợp khác theo quy định của pháp luật (bao gồm cả các luật về xuất, nhập cảnh, pháp luật khác có liên quan và sau này Nghị định của Chính phủ cũng sẽ dự kiến quy định một số trường hợp cụ thể).
8.9. Về biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án
- Rà soát toàn bộ các quy định hiện hành về biện pháp kê biên tài sản để đưa các nội dung có cùng tính chất, phạm vi, đang được đặt rải rác ở các Điều khác nhau vào từng Điều luật, gắn với từng thủ tục cụ thể, đảm bảo rõ ràng, khoa học, dễ áp dụng.
Theo đó, đối với các biện pháp cưỡng chế khác thì mỗi biện pháp cưỡng chế được thiết kế ở 1 Điều. Riêng biện pháp kê biên, xử lý tài sản là một biện pháp quan trọng, được áp dụng phổ biến với thủ tục chặt chẽ nên được quy định tại nhiều Điều (từ Điều 78 đến Điều 87), bao gồm: Quyết định kê biên; tài sản không được kê biên; thực hiện kê biên; xử lý tài sản sau khi kê biên; thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên; bán tài sản kê biên; tạm dừng, dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá tài sản thi hành án; hủy kết quả đấu giá tài sản; giao tài sản để thi hành án; đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
- Về quyết định kê biên:
+ Quy định chung về điều kiện để ra quyết định kê biên. Theo đó: Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ nếu tài sản đó được chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên kê biên tài sản hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người thứ ba đang giữ hoặc phải trả tài sản cho người phải thi hành án mà tài sản đó đã được xác định bằng bản án, quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên vẫn được kê biên, xử lý để thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện phải thu hồi đất nhưng chưa có quyết định thu hồi đất hoặc trường hợp được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì Chấp hành viên vẫn được kê biên, xử lý để thi hành án.
+ Quy định về việc ra quyết định kê biên đối với một số tài sản cụ thể, bao gồm: tài sản là quyền sử dụng đất; nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất; tài sản cầm cố, thế chấp; hoa lợi; quyền sở hữu trí tuệ. Trong đó, bổ sung quy định về quyền kê biên đối với trường hợp tài sản thi hành án là tài sản gắn liền với đất và quyền thuê trong hợp đồng thuê đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hằng năm;
trường hợp hiện trạng tài sản là quyền sử dụng đất khác với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất thì Chấp hành viên kê biên, xử lý theo quy định của pháp luật; trường hợp tài sản là nhà ở duy nhất thì người phải thi hành án phải có cam kết xác nhận và chứng minh tài sản là nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình, trường hợp nhà ở duy nhất đó được người phải thi hành án đồng ý kê biên hoặc trường hợp đã được bản án, quyết định tuyên kê biên hoặc trường hợp nhà ở là tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án thì Chấp hành viên vẫn có quyền kê biên.
+ Chính phủ sẽ quy định chi tiết Điều này để đảm bảo việc ra quyết định kê biên đối với các tài sản cụ thể sẽ đảm bảo chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn và các quy định của pháp luật chuyên ngành.
- Tài sản không được kê biên: Đối với trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường vẫn thuộc tài sản không được kê biên như quy định hiện hành nhưng
trừ trường hợp tài sản đó gắn liền với các tài sản bị kê biên, xử lý.
- Thực hiện kê biên:
+ Khi kê biên tài sản là nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo cho người đang thuê, mượn, ở nhờ biết.
Trường hợp tài sản cho thuê, mượn, ở nhờ thì người đang thuê, mượn, ở nhờ có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư đến thời điểm cơ quan thi hành án dân sự giao tài sản cho người mua tài sản hoặc người nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án, trừ trường hợp việc thuê, mượn, ở nhờ đã được xác định trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Quyền, lợi ích hợp pháp của người thuê, mượn, ở nhờ thực hiện theo quy định của pháp luật.
Nếu người thuê, mượn, ở nhờ có hành vi chống đối, cản trở việc thi hành án thì Chấp hành viên buộc họ, những người khác có mặt tự chuyển tài sản và ra khỏi nhà, kể cả chưa đến hạn theo hợp đồng. Trường hợp họ không tự nguyện thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà bị kê biên.
+ Khi kê biên mà phát hiện thêm tài sản khác của người phải thi hành án tại địa điểm kê biên chưa có trong quyết định kê biên thì Chấp hành viên kê biên tài sản đó và ghi nhận trong biên bản kê biên. Ngay sau khi kết thúc việc kê biên, Chấp hành viên phải ra quyết định kê biên bổ sung đối với tài sản đó.
Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên sửa đổi, bổ sung quyết định kê biên theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 52 của Luật này.
- Xử lý tài sản sau khi kê biên
+ Quy định phương án xử lý trong trường hợp có tài sản của người khác không thuộc đối tượng kê biên thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản di dời tài sản ra khỏi tài sản kê biên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông báo. Hết thời hạn trên mà người có tài sản không di dời tài sản thì Chấp hành viên thực hiện việc bán tài sản đó. Trường hợp tài sản không thể di dời, tháo dỡ hoặc việc di dời, tháo dỡ làm giảm đáng kể giá trị tài sản thì tài sản đó được thẩm định giá, xác định giá, bán cùng tài sản đã kê biên. Trong thời gian chờ xử lý, tài sản đó được bảo quản cùng tài sản đã kê biên, người có tài sản có quyền nhận lại tài sản sau khi thanh toán các chi phí phát sinh.
Người có tài sản được hoàn trả tiền bán tài sản sau khi trừ chi phí xử lý tài sản đó. Số tiền thu được từ việc bán tài sản được xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật này.
- Sử dụng khái niệm “thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên” thay cho khái niệm “định giá tài sản kê biên” như quy định hiện hành.
+ Quy định việc ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày
thực hiện xong việc kê biên.
+ Bổ sung quy định về việc “thẩm định giá, xác định giá tài sản là vàng, chứng khoán, tài sản số hoặc tài sản đặc thù khác theo quy định của pháp luật”. Dự kiến Nghị định của Chính phủ sẽ có hướng dẫn về xác định giá đối với các tài sản này.
+ Quy định các căn cứ thẩm định giá, xác định giá lại tài sản: (i) Có kết luận của cơ quan, người có thẩm quyền về việc Chấp hành viên hoặc doanh nghiệp thẩm định giá có vi phạm nghiêm trọng dẫn đến sai lệch kết quả thẩm định giá lại, xác định giá; (ii) Đương sự có văn bản yêu cầu thẩm định giá lại, xác định giá lại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá, xác định giá lần đầu.
Việc thẩm định giá lại, xác định giá lại theo yêu cầu của đương sự chỉ được thực hiện một lần. Người yêu cầu phải chịu chi phí và phải nộp ngay tạm ứng chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại theo quy định của Chính phủ; (iii) Chứng thư thẩm định giá đã hết hiệu lực trước khi có thông báo công khai việc đấu giá tài sản lần đầu, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận về việc tiếp tục sử dụng giá theo chứng thư đó.
+ Xác định rõ giá khởi điểm để đấu giá lần đầu là giá theo kết quả thẩm định giá, xác định giá tại khoản 1 Điều này hoặc giá do đương sự thỏa thuận. Trường hợp thẩm định giá, xác định giá lại thì kết quả thẩm định giá, xác định giá lại được lấy làm giá khởi điểm để đấu giá theo quy định của Luật này.
- Về bán tài sản kê biên:
+ Sửa đổi quy định về trường hợp chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án nhằm rút ngắn thời gian, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật trong tổ chức thi hành án, cụ thể như sau: Giảm thời hạn chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung từ 90 ngày đối với bất động sản, 30 ngày đối với động sản xuống còn 15 ngày đối với bất động sản, 05 ngày làm việc đối với động sản. Đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì có quyền ưu tiên mua trước thời điểm mở cuộc đấu giá 03 ngày làm việc.
+ Bổ sung quy định trường hợp
không ký được hợp đồng dịch vụ với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thì Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản trên địa bàn thực hiện việc đấu giá tài sản.
+ Tương tự như thẩm định giá, Luật đã quy định về việc bán tài sản là vàng, chứng khoán, tài sản số hoặc tài sản đặc thù khác theo quy định của pháp luật.
- Bổ sung quy định về các căn cứ tạm dừng, dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá tài sản thi hành án.
8.10. Về các biện pháp cưỡng chế thi hành án khác
- Biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
+ Bổ sung quy định về nguyên tắc:
Trường hợp có tài sản của người khác gắn liền với quyền sử dụng đất được chuyển giao mà việc xử lý tài sản đó đã được xác định trong bản án, quyết định được thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản theo nội dung bản án, quyết định.
+ Quy định rõ phương án xử lý trong trường hợp có tài sản của người khác gắn liền với quyền sử dụng đất được chuyển giao mà việc xử lý tài sản đó chưa được xác định trong bản án, quyết định mà tài sản gắn liền với đất hình thành sau khi có bản án, quyết định sơ thẩm:
Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao cho người được thi hành án. Hết thời hạn ấn định mà họ không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế giao quyền sử dụng đất cùng với các tài sản đó cho người được thi hành án.
Nếu người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản gắn liền với đất thì Chấp hành viên có quyền bán tài sản trên đất hoặc tiêu hủy nếu đủ điều kiện tiêu hủy. Khi giao quyền sử dụng đất cho người được thi hành án, Chấp hành viên cưỡng chế tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho để tài sản trên đất trong thời gian xử lý tài sản.
- Biện pháp cưỡng chế buộc thực hiện, không thực hiện công việc: Không quy định thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trước khi đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự với người phải thi hành án trong trường hợp này. Tuy nhiên, cơ quan THADS cần lưu ý: Thủ trưởng cơ quan THADS vẫn có quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
8.11. Quy định mới, rõ ràng về các căn cứ và thời hạn chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế và giải tỏa kê biên tài sản
- Quy định về quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đương nhiên hết hiệu lực khi có quyết định đình chỉ thi hành án.
- Quy định các căn cứ chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án (trừ biện pháp tạm hoãn xuất cảnh - thực hiện theo quy định của pháp luật về xuất nhập cảnh và hướng dẫn của Chính phủ), bao gồm:
+ Người yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm đề nghị chấm dứt;
+ Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và thanh toán các chi phí thi hành án theo quy định của Luật này;
+ Tài sản, giấy tờ không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người phải thi hành án;
+ Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
- Quy định về các căn cứ chấm dứt áp dụng biện pháp cưỡng chế (trừ quyết định kê biên), bao gồm:
+ Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và thanh toán các chi phí thi hành án theo quy định của Luật này;
+ Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản không hiệu quả, làm cản trở đến việc thi hành án hoặc người phải thi hành án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản.
- Quy định về các căn cứ giải tỏa kê biên tài sản:
+ Đương sự thỏa thuận về việc giải tỏa kê biên tài sản, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án;
+ Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và thanh toán các chi phí thi hành án;
+ Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
- Các biện pháp cưỡng chế khác cơ bản giữ như quy định hiện hành nhưng có rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định cho phù hợp, đồng bộ.
8.12. Về thủ tục trả lại tiền, tài sản cho đương sự
Giảm thời hạn thông báo để đương sự đến nhận tiền từ 15 ngày xuống 10 ngày, nhận tài sản từ 03 tháng (90 ngày) xuống 30 ngày, từ đó, giảm được tối đa 60 ngày đối với khoản trả lại tiền, tài sản cho đương sự
8.13. Rà soát, bổ sung nhiều căn cứ để ra các quyết định về thi hành án
Luật đã bổ sung nhiều căn cứ ra các quyết định về thi hành án như: Quyết định xác định việc thi hành án chưa có điều kiện, hoãn thi hành án, tạm đình chỉ thi hành án và đình chỉ thi hành án, ủy thác thi hành án, ủy thác xử lý tài sản nhằm tháo gỡ nhiều vướng mắc, bất cập từ thực tiễn và đồng bộ, thống nhất với các Luật có liên quan.
8.14. Về giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS:
Nhằm phù hợp với mô hình hệ thống THADS sau sắp xếp và xã hội hóa hoạt động THADS, Luật đã sửa đổi quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo như sau:
- Về khiếu nại: Thủ trưởng cơ quan THADS giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình và của Phó Thủ trưởng, Chấp hành viên thuộc quyền quản lý; Trưởng Văn phòng THADS giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình và của Thừa hành viên thuộc Văn phòng; Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS giải quyết lần hai đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan THADS và quyết định giải quyết khiếu nại của Trưởng Văn phòng THADS. Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS.
- Về tố cáo:
+ Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan nào thì người đứng đầu cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.
+ Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết. Trường hợp người bị tố cáo là Trưởng văn phòng thi hành án dân sự hoặc Thừa hành viên thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết. Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có trách nhiệm giải quyết.
9. Tiếp tục thực hiện xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự
Chủ trương xã hội hóa một số hoạt động THADS đã được Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra, đặc biệt là Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới yêu cầu:
thực hiện xã hội hóa một số hoạt động THADS với cơ chế bảo đảm và lộ trình phù hợp.
Tiếp tục thực hiện chủ trương trên, dự thảo Luật đã bổ sung các quy định về Thừa hành viên và Văn phòng THADS với những nội dung chính như sau:
- Đổi tên Thừa phát lại thành Thừa hành viên và đổi tên Văn phòng Thừa phát lại thành Văn phòng THADS để bảo đảm tính phổ thông, dễ hiểu hơn, phù hợp với phạm vi, tính chất hoạt động THADS của tổ chức này. Văn phòng THADS và Thừa hành viên vẫn được thực hiện các hoạt động khác như quy định hiện hành về Thừa phát lại.
- Văn phòng THADS tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự; không có thẩm quyền tổ chức thi hành các vụ việc thi hành án chủ động mà các nhiệm vụ này do cơ quan THADS thực hiện.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn: Thừa phát lại tiếp tục được thực hiện 04 thủ tục về thi hành án theo Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, gồm: (1) Thực hiện kịp thời, đúng nội dung quyết định thi hành án được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ban hành theo đề nghị của Trưởng Văn phòng Thừa phát lại; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; (2) Mời đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án; (3) Kiến nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án đã ban hành theo đề nghị của Trưởng Văn phòng Thừa phát lại; (4) Xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án.
Bên cạnh đó, so với Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Luật đã mở rộng thẩm quyền của Thừa phát lại về 04 thủ tục sau: (i) Được ra quyết định thi hành án; (ii) Được đề nghị Tòa án xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án; (iii) Được yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu; (iv) Được yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp tài sản thi hành án.
Đồng thời, Thừa phát lại được thực hiện thêm 01 thủ tục sau:
“Thừa hành viên được đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện phong toả tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản”.
- Quy định rõ tại Luật về thủ tục thi hành án của Thừa hành viên, văn phòng THADS, trong đó có quy định trường hợp người yêu cầu có văn bản đề nghị văn phòng thi hành án dân sự chấm dứt việc thi hành án và chuyển cơ quan thi hành án dân sự để áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thì trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày thanh lý hợp đồng, Trưởng văn phòng thi hành án dân sự phải thu hồi quyết định thi hành án và chuyển hồ sơ thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, trừ trường hợp người yêu cầu không đồng ý. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.