Đánh giá việc thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ 03 tháng đầu năm 2026 và giải pháp thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ trong thời gian tới

11/02/2026


Thực hiện Quyết định số 3530/QĐ-BTP ngày 15/12/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Chương trình công tác trọng tâm trong lĩnh vực thi hành án dân sự, thi hành án hành chính năm 2026; Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS ngày 31/12/2026 của Cục trưởng cục Quản lý THADS về việc giao chỉ tiêu, nhiệm vụ THADS, theo dõi THAHC cho các cơ quan THADS địa phương năm 2026, trong ba tháng đầu năm 2026, cơ bản các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã được Cục Quản lý THADS, các cơ quan THADS địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ và đã đạt được một số kết quả như sau:
1. Kết quả công tác THADS 03 tháng đầu năm 2026
1.1. Kết quả thi hành xong về việc, về tiền trong số có điều kiện thi hành kết quả như sau:
Về việc: Số thụ lý mới 292.447 việc, tăng 10.107 việc (tăng 3,58%) so với cùng kỳ năm 2025, cộng với số cũ chuyển sang, trừ số ủy thác 701 việc, thu hồi, hủy quyết định thi hành án 258 việc, tổng số phải thi hành 673.636 việc, tăng 68.330 (tăng 11,29%) so với cùng kỳ năm 2025.
Kết quả phân loại: Có điều kiện thi hành 396.835 việc, tăng 37.215 việc (tăng 10,35%) so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 58,91% trong tổng số phải thi hành. Trong số có điều kiện thi hành, thi hành xong thi hành xong 108.247 việc, giảm 20.173 việc (giảm 15,71%) so với cùng kỳ năm 2025; đạt tỉ lệ 27,28% (giảm 8,43%) so với cùng kỳ năm 2025, còn thiếu 57,02% so với chỉ tiêu của Cục Quản lý THADS giao trên 84,30%.
Về tiền: Thụ lý mới 263.260 tỷ 923 triệu 619 nghìn đồng, tăng 72.699 tỷ 036 triệu 417 nghìn đồng (tăng 38,15%) so với cùng kỳ năm 2025, cộng với số năm trước chuyển sang, trừ số ủy thác trên 2.004 tỷ đồng, thu hồi, hủy quyết định thi hành án trên 202 tỷ đồng, tổng số phải thi hành trên 629.488 tỷ đồng, tăng trên 161.977 tỷ đồng (tăng 34,65%) so với cùng kỳ năm 2025.
Kết quả phân loại: Có điều kiện thi hành trên 328.787 tỷ đồng, tăng trên 99.251 tỷ đồng (tăng 43,24%) so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 52,23% trong tổng số phải thi hành. Trong số có điều kiện thi hành, thi hành xong trên 37.467 tỷ đồng, tăng trên 10.240 tỷ đồng (tăng 37,61%) so với cùng kỳ năm 2025; đạt tỉ lệ 11,40% (giảm 0,47%) so với cùng kỳ năm 2025, còn thiếu 44,80% so với chỉ tiêu của Cục Quản lý THADS giao trên 56,20%.
1.2. Kết quả thi hành đối với các khoản thu liên quan đến vụ án tham nhũng, kinh tế
Về việc: Số thụ lý mới 958 việc, giảm 365 việc (giảm 27,59%) so với cùng kỳ năm 2025, cộng với số cũ chuyển sang, trừ số ủy thác trừ số ủy thác 8 việc, thu hồi, hủy quyết định thi hành án 1 việc, tổng số phải thi hành 4.813 việc, giảm 107 (giảm 2,17%) so với cùng kỳ năm 2025.
Kết quả phân loại: Có điều kiện thi hành 2.723 việc, giảm 459 việc (giảm 14,42%) so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 56,58% trong tổng số phải thi hành. Trong số có điều kiện thi hành, thi hành xong 600 việc, giảm 742 việc (giảm 55,29%) so với cùng kỳ năm 2025; đạt tỉ lệ 22,03% (giảm 20,14%) so với cùng kỳ năm 2025.
Về tiền: Thụ lý mới trên 3.868 tỷ đồng, tăng trên 379 tỷ đồng (tăng trên 379 tỷ đồng) so với cùng kỳ năm 2025, cộng với số năm trước chuyển sang, trừ số ủy thác trên 332 tỷ đồng, thu hồi, hủy quyết định thi hành án 600 nghìn đồng, tổng số phải thi hành trên 133.241 tỷ đồng, tăng trên 47.794 tỷ đồng (tăng 55,93%) so với cùng kỳ năm 2025.
Kết quả phân loại: Có điều kiện thi hành trên 64.800 tỷ đồng, tăng trên 41.395 tỷ đồng (tăng 176,87%) so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 48,63% trong tổng số phải thi hành. Trong số có điều kiện thi hành, thi hành xong trên 2.881 tỷ đồng, tăng trên 557 tỷ đồng (tăng 24,01%) so với cùng kỳ năm 2025; đạt tỉ lệ 4,45% (giảm 5,48%) so với cùng kỳ năm 2025.
1.3. Kết quả thi hành các khoản thu liên quan đến tổ chức tín dụng (không bao gồm ủy thác thi hành án, số chưa có điều kiện đã chuyển sổ theo dõi riêng)
Số việc phải thi hành là 54.818 việc với 261.846 tỷ 71 triệu 622 nghìn đồng. Như vậy, số thi hành liên quan đến các tổ chức, tín dụng chiếm 8,14% về việc và 41,60% về tiền so với tổng số việc và tiền phải thi hành của toàn hệ thống.
Đã thi hành xong 1.847 việc, tăng 126 việc (tăng 7,32%) so với cùng kỳ năm 2025. Đã thi hành xong về tiền 14.371 tỷ 20 triệu 179 nghìn đồng, tăng 4.549 tỷ 804 triệu 560 nghìn đồng (tăng 46,33%) so với cùng kỳ năm 2025. Số việc chưa có điều kiện chuyển sổ theo dõi riêng là 12.992 việc và 38.033 tỷ 422 triệu 894 nghìn đồng.
2. Đánh giá chung
Tuy nhiên, qua số liệu đánh giá nêu trên cho thấy: Tổng số phải thi hành của toàn hệ thống 03 tháng đầu năm tăng mạnh (tăng 11,29% về việc và tăng 34,65% về tiền), đặc biệt, án tín dụng ngân hàng chiếm giá trị lớn (chiếm 41,60% tổng số tiền phải thi hành của toàn hệ thống) phản ánh khối lượng công việc, áp lực giải quyết công việc đặt ra cho Hệ thống THADS năm 2026 nhiều khó khăn, thách thức. Bên cạnh đó, kết quả THADS 03 tháng đầu năm cho thấy còn một số hạn chế: thi hành xong về việc giảm cả số tuyệt đối (giảm 20.173 việc) và tỷ lệ (giảm 8,43% so với cùng kỳ năm 2025), về tiền tuy có tăng về số tuyệt đối (tăng trên 10.240 tỷ đồng) nhưng giảm về tỷ lệ (giảm 0,47%) so với cùng kỳ 2025; kết quả thi hành án tham nhũng, kinh tế chung về việc giảm cả số tuyệt đối và tỷ lệ, vẫn còn tình trạng việc ra quyết định THA thiếu chính xác (có 258 quyết định THA phải thu hồi, hủy); số chuyển kỳ sau, đã trừ số chuyển sổ theo dõi riêng vẫn tăng mạnh cả về việc và về tiền so với cùng kỳ năm 2025 (về việc tăng 18,56%, về tiền tăng 34,46%)…
Dựa theo chỉ tiêu giao năm 2026, kết quả THADS toàn quốc về việc đạt 27,28%, về tiền đạt 11,40%; như vậy đã hoàn thành kế hoạch theo quý về việc, nhưng chưa hoàn thành kế hoạch theo quý về tiền. Cụ thể, chỉ tiêu giao năm về việc 84,30%, bình quân mỗi tháng cần đạt khoảng 7,03% (84,30%/12 tháng), nên kế hoạch theo quý tương ứng 21,09%; kết quả thực tế 27,28% vượt mức này. Trong khi đó, chỉ tiêu giao năm về tiền 56,20%, bình quân mỗi tháng khoảng 4,68%, nên kế hoạch theo quý khoảng 14,05%; kết quả thực tế 11,40% còn thấp hơn kế hoạch quý (thiếu khoảng 2,65%).
3. Nguyên nhân của hạn chế
3.1. Nguyên nhân chủ quan
- Hiệu quả tổ chức thi hành chưa cao: Tỷ lệ thi hành xong về việc giảm mạnh (giảm 15,71% tuyệt đối và 8,43% tỷ lệ so với cùng kỳ), đạt chỉ 27,28% (thiếu 57,02% so với chỉ tiêu trên 84,30%). Về tiền tăng tuyệt đối nhưng tỷ lệ giảm nhẹ (11,40%, thiếu 44,80% so với chỉ tiêu giao) cho thấy việc phân loại án, xác minh điều kiện thi hành, ra quyết định thi hành án, tổ chức cưỡng chế còn chậm, thiếu quyết liệt, hoặc chưa tập trung vào các vụ có điều kiện thực tế, thiếu sự chủ động trong nghiên cứu, đề xuất giải pháp xử lý khó khăn, vướng mắc dẫn đến nhiều việc THADS đã ra quyết định nhiều năm chưa thi hành xong mặc dù có điều kiện THA;
- Ra quyết định thi hành án thiếu chính xác: Có 258 quyết định phải thu hồi, hủy (cùng với 701 việc ủy thác, thu hồi khác), dẫn đến lãng phí thời gian, nguồn lực và làm giảm hiệu quả tổng thể. Đây là lỗi chủ quan trong kiểm soát hồ sơ, đối chiếu số liệu, phân loại điều kiện thi hành. Đây là 01 trong những chỉ tiêu Quốc hội giao hàng năm đảm bảo ra quyết định THA đúng pháp luật đạt 100%.
- Hạn chế trong phối hợp, chỉ đạo và quản lý: Kết quả thi hành án tham nhũng kinh tế giảm mạnh về việc (giảm 55,29%) và tỷ lệ (giảm 20,14%), cho thấy phối hợp liên ngành (tòa án, công an, ngân hàng, chính quyền địa phương) chưa đồng đều, hiệu quả. Số chuyển kỳ sau (tồn đọng) tăng mạnh (18,56% về việc, 34,46% về tiền), phản ánh việc chỉ đạo, đôn đốc của Lãnh đạo THADS tỉnh, thành phố chưa thực sự quan tâm công tác kiểm tra, tự kiểm tra, rà soát, kiểm đếm công việc theo các chương trình, kế hoạch, nên chưa tổ chức thực hiện đầy đủ các chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Cục Quản lý THADS và các cấp có thẩm quyền.
- Công tác phối hợp ở một số nơi; chưa kịp thời báo cáo, tranh thủ dự ủng hộ của cấp uỷ, chính quyền, Ban chỉ đạo THADS và của các cơ quan, đặc biệt là trong giải quyết khó khăn, vướng mắc tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức THADS và thi hành bản án, quyết định hành chính.
3.2. Nguyên nhân khách quan
- Khối lượng công việc tăng mạnh và phức tạp: Tổng số phải thi hành tăng 11,29% về việc và 34,65% về tiền so với cùng kỳ 2025, đặc biệt án liên quan đến tổ chức tín dụng (ngân hàng) chiếm tỷ lệ lớn (8,14% về việc nhưng tới 41,60% về tiền). Điều này phản ánh tình hình kinh tế - xã hội, nợ xấu ngân hàng tăng, nhiều vụ việc lớn phát sinh từ các giao dịch tín dụng, bất động sản, và các đại án kinh tế tham nhũng kéo dài. Những vụ việc này thường liên quan đến tài sản phức tạp (hàng nghìn bất động sản, tranh chấp đa địa phương), khó xác minh, kê biên, xử lý.
- Tính chất phức tạp của án tham nhũng, kinh tế: Số việc phải thi hành giảm nhẹ nhưng giá trị tiền tăng mạnh (tăng 55,93% về tiền phải thi hành), có điều kiện thi hành tăng vọt (tăng 176,87% về tiền). Tuy nhiên, tỷ lệ thi hành xong thấp (chỉ 4,45% về tiền, giảm 5,48%), do các vụ việc lớn, tài sản bị che giấu, phân tán, tranh chấp pháp lý kéo dài, phối hợp liên ngành khó khăn (đặc biệt xử lý tài sản tín dụng ngân hàng).
- Yếu tố kinh tế - xã hội và pháp lý: Một số đương sự (người phải thi hành án) thiếu ý thức tự nguyện, khiếu nại kéo dài, hoặc tài sản không đủ để thi hành. Phối hợp liên ngành (tòa án, công an, ngân hàng, chính quyền địa phương) chưa đồng bộ, nhất là các vụ việc phải tổ chức cưỡng chế (thiếu hỗ trợ lực lượng từ công an sau sắp xếp bộ máy).
4. Giải pháp thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ trong thời gian tới
4.1. Đối với Cục Quản lý THADS
Trên cơ sở số liệu 03 tháng nêu trên, ngày 10/01/2026, Cục Quản lý THADS đã có Công văn số 79/CQLTHADS-BCĐS&TKDL về việc đôn đốc thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ THADS, THAHC 03 tháng đầu năm 2026 trong đó nêu rõ các đơn vị giảm số tuyệt đối về việc, về tiền so với cùng kỳ 2025 để THADS tỉnh, thành phố đối chiếu để chỉ đạo đối với các Phòng THADS khu vực, các Chấp hành viên trong tỉnh. Đồng thời, Cục Quản lý THADS đã ban hành 34 công văn gửi Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, trưởng Ban chỉ đạo THADS tỉnh để phối hợp đôn đốc, theo dõi trong việc thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan THADS tỉnh, thành phố.
Lãnh đạo Cục theo lĩnh vực, địa bàn được phân công chịu trách nhiệm bám sát tình hình, kịp thời đôn đốc, chỉ đạo và tháo gỡ khó khăn cho địa phương, góp phần nâng cao kết quả THADS.
Tổ chức hội nghị giao ban Quý đối với toàn Hệ thống THADS nhằm đánh giá, kết quả THADS, kết quả phân loại án để tiếp tục đôn đốc chỉ tiêu năm 2026.
4.2. Đối với THADS tỉnh, thành phố
1. Khẩn trương xử lý tài sản, tổ chức thi hành dứt điểm các vụ việc có điều kiện thi hành, nhất là các vụ án lớn, phức tạp, án tham nhũng, kinh tế; án tín dụng, ngân hàng; các vụ việc đang thi hành chuyển từ năm 2025 sang.
2. Đối với các vụ việc mới thụ lý: kịp thời xác minh, phân loại, tổ chức thi hành bảo đảm thời hạn theo đúng quy định. Trường hợp có điều kiện thi hành thì khẩn trương tiến hành thủ tục kê biên, xử lý tài sản, đưa tài sản ra bán đấu giá; kịp thời xử lý ngay các khoản tiền, tang vật, tài sản được bản án tuyên hoàn trả hoặc tiêu hủy, sung công…
3. Phối hợp chặt chẽ với các Trại giam, Trại tạm giam trong việc thu tiền của phạm nhân; kịp thời rà soát, xử lý các khoản tiền Trại giam đã thu.
4. Tăng cường công tác kiểm tra, chỉ đạo Trưởng Phòng THADS khu vực kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc xác minh, phân loại án, quá trình tổ chức thi hành án của Chấp hành viên, nhất là việc kê biên, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản. Kịp thời phát hiện các vi phạm để chỉ đạo khắc phục, đồng thời, kiên quyết xử lý nghiêm đối với các vi phạm do cố ý, có mục đích vụ lợi và thiếu tích cực trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn dẫn tới chậm trễ trong tổ chức thi hành án.
5. Đối với các địa phương có kết quả thi hành án thấp hơn kết quả bình quân chung của toàn quốc, đồng chí Trưởng THADS, các đồng chí Phó trưởng THADS, Trưởng Phòng THADS Khu vực phải thường xuyên kiểm soát tiến độ, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc Chấp hành viên tổ chức thi hành án và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ của đơn vị. Cục Quản lý THADS sẽ kiên quyết xử lý nghiêm đối với Trưởng THADS những địa phương, đơn vị 02 năm liền không hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao.
6. Các đồng chí Trưởng THADS tỉnh, thành phố trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, ký báo cáo thống kê, các loại danh sách và chịu trách nhiệm trước Cục trưởng Cục Quản lý THADS về tính chính xác của số liệu thống kê tại các kỳ báo cáo theo quy định./.