Những vướng mắc trong việc thực hiện Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành

Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) và  Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ là những văn bản quan trọng, tạo dựng một hành lang, khung khổ pháp lý vững chắc, ổn định, nâng cao hiệu lực, hiệu quả cho việc triển khai hoạt động thi hành án dân sự (THADS) trên toàn quốc. Thời gian qua, kết quả công tác THADS đã được ghi nhận, đã và đang góp phần tích cực vào việc bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích phong trào khởi nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như của từng địa phương. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự, cũng như Nghị định số 62 đã bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc cần được nhận diện, đánh giá, từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn hệ thống các quy định pháp luật về thi hành án dân sự; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác THADS;  đáp ứng tốt hơn yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.

Một số vấn đề về thời hiệu yêu cầu thi hành án

Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định. Nhằm đảm bảo tính ổn định của các quan hệ xã hội, đồng thời đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong hoạt động thi hành án, ngay từ Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993(Điều 21); Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004( Điều 25) đã có quy định về thời hiệu yêu cầu thi hành án. Theo khoản 5 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014( Luật THADS) thì thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời hạn mà người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành án; hết thời hạn đó thì mất quyền yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành án theo quy định của Luật THADS. Vấn đề thời hiệu yêu cầu thi hành án hiện nay được quy định cụ thể tại Điều 30 Luật THADS và Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS( Nghị định số 62/2015/NĐ-CP).

Chuyển giao quyền nghĩa vụ thi hành án và một số vấn đề pháp lý liên quan

Chuyển giao quyền, nghĩa vụ dân sự là trường hợp người có quyền hoặc có nghĩa vụ không tự mình hưởng quyền hoặc tự mình thực hiện nghĩa vụ đã giao kết mà chuyển giao cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Để đảm bảo cho việc  thi hành án được liên tục, hiệu quả, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 (gọi tắt là Luật THADS) đã quy định cụ thể về vấn đề chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án. 

Một số vướng mắc khi ra quyết định thi hành án

Quyết định thi hành án có vai trò đặc biệt quan trọng, khởi động toàn bộ quá trình thi hành án. Việc ra quyết định thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 23, Điều 36 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 (Luật THADS), Điều 6, Điều 7 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP); Điều 1 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC và Thông tư số 01/2016/TT-BTP quy định về hệ thống biểu mẫu nghiệp vụ THADS.

Có thực hiện việc xác minh đối với những việc chuyển vào số theo dõi riêng

Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự đã bỏ chế định “trả đơn yêu cầu thi hành án” thay vào đó Luật đã bổ sung một quy định mới đó là “việc chưa có điều kiện thi hành án”. Theo đó, cơ quan thi hành án dân sự sẽ không ra quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án đối với những trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án mà vẫn tiếp tục quản lý đối với loại việc đó.

Nâng cao hiệu quả các cuộc họp của các đơn vị trong Hệ thống Thi hành án dân sự

Họp, hội nghị là một hình thức của hoạt động quản lý nhà nước, một cách thức giải quyết công việc, thông qua đó thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành giải quyết các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan mình theo quy định của pháp luật. Chế độ họp bao gồm:

Xác minh điều kiện thi hành án – Một số bất cập từ thực tiễn

Xác minh điều kiện thi hành án có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành án,. Kết quả xác minh là cơ sở để chấp hành viên định hướng giải quyết hồ sơ thi hành án, đồng thời là căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp lý khác trong quá trình tổ chức thi hành án. 

Một số nội dung cơ bản về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo trong thi hành án dân sự

Quyền tố cáo là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, Pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 quy định: Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Theo khoản 2 Điều 3 Thông tư số 02/2016/TT-BTP quy định quy trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự ( Thông tư số 02/2016/TT-BTP), Tố cáo về thi hành án dân sự ( gọi tắt là THADS) là việc công dân báo cho người có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm Pháp luật của Thủ trưởng cơ quan THADS, chấp hành viên và công chức khác gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức trong THADS.

Về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức trong thi hành án dân sự

Thực tiễn cho thấy, công tác thi hành án dân sự (THADS), nếu không có sự chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền, sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì những người làm công tác THADS khó mà hoàn thành tốt nhiệm vụ. 

Phát huy vai trò chủ động của chấp hành viên – Góc nhìn từ quyền hạn

Thi hành án dân sự là hoạt động nhằm đảm bảo các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án và các quyết định khác được thi hành theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình tổ chức thi hành án, vai trò của chấp hành viên đặc biệt quan trọng, là người giữ vị trí trung tâm của mọi hoạt động thi hành án dân sự (THADS). Theo quy định tại Điều 17 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật THADS) thì chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật THADS. Chấp hành viên có ba ngạch là: Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp. Nhiệm vụ, quyền hạn và các vấn đề liên quan đến chấp hành viên được quy định cụ thể tại Luật THADS (Từ Điều 17 đến Điều 21 và Điều 25 Luật THADS).