Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 (sau đây gọi tắt là Luật Phục hồi, phá sản 2025) đã thiết lập khuôn khổ pháp lý mới về phục hồi và phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; trong đó Chương VI dành riêng cho “thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản”. Việc Luật dành một chương độc lập cho giai đoạn thi hành cho thấy nhà làm luật coi đây là mắt xích quyết định hiệu lực thực tế của thủ tục phá sản, bảo đảm quyền lợi của chủ nợ, người lao động và các chủ thể liên quan.
Nếu chỉ dừng ở các quy định khung của Luật mà thiếu một Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết, thì việc tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản rất dễ rơi vào tình trạng thiếu thống nhất về quy trình, chồng lấn trách nhiệm hoặc “rơi khoảng trống” giữa các chủ thể. Nghị định vì vậy cần được ban hành để chuẩn hóa trình tự, thủ tục, xác định rõ trách nhiệm phối hợp và cơ chế xử lý tình huống trong thi hành.
I. Cơ sở chính trị, pháp lý của việc ban hành Nghị định
Về cơ sở chính trị – chủ trương, việc hoàn thiện pháp luật về phục hồi, phá sản gắn với mục tiêu cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng cường hội nhập quốc tế và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Một cơ chế phá sản hiện đại không chỉ dừng ở việc “tuyên bố phá sản”, mà phải bảo đảm thi hành được quyết định tuyên bố phá sản một cách minh bạch, đúng thứ tự ưu tiên và trong thời hạn hợp lý.
Về cơ sở pháp lý trực tiếp, Luật Phục hồi, phá sản 2025 đã giao Chính phủ quy định chi tiết các nội dung quan trọng liên quan đến giai đoạn thi hành. Đây là nền tảng để ban hành Nghị định và cũng là giới hạn ủy quyền cần tuân thủ trong xây dựng nội dung.
Liên quan đến thủ tục thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 giao Chính phủ quy định chi tiết về thẩm quyền và thủ tục thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản (khoản 5 Điều 76) và định giá tài sản và bán tài sản (khoản 7 Điều 77).
Ngoài phạm vi Luật Phục hồi, phá sản 2025, việc tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản có quan hệ mật thiết với Luật THADS 2025 (về quyết định thi hành, cưỡng chế, ủy thác, bảo quản – xử lý tài sản, trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan). Do đó, Nghị định cần bảo đảm tính đồng bộ và tính tương thích giữa cơ chế phá sản với cơ chế thi hành án dân sự.
II. Cơ sở thực tiễn và yêu cầu tháo gỡ khó khăn trong tổ chức thi hành án phá sản
Sau khi Luật Phá sản 2014 được ban hành, các cơ quan trung ương đã ban hành TTLT 07/2018 nhằm hướng dẫn phối hợp trong thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản. TTLT 07/2018 đã góp phần tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động phối hợp, hỗ trợ QTV/DNQLTLTS và cơ quan THADS trong một số khâu then chốt.
Dù vậy, thực tiễn cho thấy thi hành án phá sản mang tính đặc thù cao: tài sản đa dạng; nhiều chủ thể cùng tham gia; dễ phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu, nghĩa vụ bảo đảm, tài sản của bên thứ ba; đồng thời phải bảo đảm thứ tự ưu tiên phân chia và bảo đảm công khai, minh bạch. Những khó khăn, vướng mắc thường gặp tập trung ở các nhóm vấn đề:
- Thẩm quyền, phạm vi và thủ tục thi hành: cần làm rõ cơ quan THADS ra quyết định thi hành đối với những nội dung nào trong quyết định tuyên bố phá sản, cách thức chuyển giao hồ sơ và trách nhiệm cập nhật thông tin trong toàn bộ quá trình.
- Cơ chế phối hợp liên ngành: phối hợp giữa Tòa án – cơ quan THADS – Viện kiểm sát – QTV/DNQLTLTS – cơ quan đăng ký tài sản – kho bạc, ngân hàng… trong từng khâu (xác minh, thu hồi, giao nhận, phong tỏa, chuyển tiền, cung cấp thông tin).
- Định giá, bán tài sản và định giá lại: lựa chọn doanh nghiệp thẩm định giá; công khai kết quả; xử lý khi có vi phạm dẫn đến sai lệch; căn cứ bán không qua đấu giá; giảm giá và xử lý tình huống đấu giá không thành.
- Cưỡng chế thu hồi, giao tài sản: xác định tiêu chí kích hoạt cưỡng chế theo đề nghị của QTV/DNQLTLTS; phân công vai trò giữa QTV và Chấp hành viên; huy động lực lượng và phối hợp chính quyền, công an khi cần thiết.
- Giám sát và trách nhiệm giải trình của QTV/DNQLTLTS: hình thức giám sát, nội dung báo cáo, cơ chế xử lý chậm trễ/vi phạm; bảo đảm minh bạch với người tham gia thủ tục phá sản.
III. Những yêu cầu mới từ Luật Phục hồi, phá sản 2025 và “khoảng trống” cần Nghị định lấp đầy
Luật Phục hồi, phá sản 2025 tạo ra một số điểm nhấn mới có tác động trực tiếp đến yêu cầu quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Các điểm nhấn này, nếu không được “quy trình hóa”, sẽ làm phát sinh khoảng trống hoặc áp dụng không thống nhất.
1. Chuẩn hóa điểm khởi động: chuyển giao quyết định, hồ sơ kèm theo và mốc thời hạn
Luật quy định trách nhiệm chuyển giao quyết định tuyên bố phá sản và cơ chế công khai thông tin. Trên thực tế, để tính thời hạn và xác định trách nhiệm của từng chủ thể, Nghị định cần quy định rõ: danh mục tài liệu kèm theo khi chuyển giao; hình thức giao nhận; cách chứng minh thời điểm nhận; và cơ chế xử lý khi hồ sơ chuyển giao thiếu hoặc chậm.
2. Ra quyết định thi hành và văn bản yêu cầu QTV/DNQLTLTS tổ chức thi hành
Luật xác định cơ quan THADS ra quyết định thi hành và yêu cầu QTV/DNQLTLTS tổ chức thi hành. Tuy nhiên, “văn bản yêu cầu” là mốc pháp lý quan trọng để tính thời hạn định giá tài sản và các công việc tiếp theo. Vì vậy, Nghị định cần chuẩn hóa tối thiểu về nội dung, hình thức, cách gửi/nhận và lưu trữ văn bản yêu cầu để hạn chế tranh chấp thủ tục.
3. Cưỡng chế – công cụ quyền lực nhà nước và tiêu chí kích hoạt
Luật cho phép cưỡng chế thu hồi, giao tài sản theo pháp luật THADS khi QTV/DNQLTLTS đề nghị và thấy cần thiết. Trong thực tiễn, việc xác định “cần thiết” phụ thuộc nhiều tình huống: tẩu tán tài sản, không hợp tác, tài sản do bên thứ ba quản lý, tài sản ở nhiều địa bàn… Nghị định cần cụ thể hóa điều kiện, trình tự, hồ sơ đề nghị cưỡng chế và trách nhiệm phối hợp để cưỡng chế không bị “tắc” vì tranh luận thẩm quyền.
4. Định giá – bán tài sản – định giá lại: trọng tâm kỹ thuật cần hướng dẫn chi tiết
Luật đã quy định nguyên tắc và khung thời hạn về định giá và bán tài sản, đồng thời cho phép bán không qua đấu giá trong một số trường hợp. Tuy vậy, để tránh thất thoát tài sản và hạn chế khiếu nại, Nghị định cần quy định rõ quy trình lựa chọn doanh nghiệp thẩm định giá, công khai kết quả, xử lý vi phạm làm sai lệch kết quả định giá, và cơ chế giám sát của Chấp hành viên đối với các bước nghiệp vụ của QTV/DNQLTLTS.
5. Giám sát QTV/DNQLTLTS và cơ chế báo cáo
Thi hành quyết định tuyên bố phá sản vận hành theo mô hình “QTV/DNQLTLTS tổ chức – Chấp hành viên giám sát và thực hiện thẩm quyền nhà nước”. Mô hình này chỉ bền vững nếu có cơ chế giám sát minh bạch, tiêu chí đánh giá và hệ quả pháp lý khi phát hiện vi phạm. Nghị định cần xác định hình thức giám sát, nội dung báo cáo định kỳ/đột xuất, trách nhiệm lưu trữ và công khai thông tin cần thiết.
IV. Định hướng xây dựng nội dung Nghị định
Các tài liệu định hướng cho thấy dự thảo Nghị định được thiết kế theo hướng quy trình hóa chuỗi thủ tục từ chuyển giao quyết định đến kết thúc thi hành. Đây là cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu “đồng bộ – khả thi – thống nhất”.
Định hướng về chuỗi thủ tục và các khâu cần quy định chi tiết: Dự thảo Nghị định quy định các thủ tục để thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản từ thời điểm cơ quan THADS nhận chuyển giao Quyết định đến khi kết thúc việc thi hành án, cụ thể:
(1) Thủ tục giao nhận quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản giữa Tòa án và cơ quan THADS: thời hạn chuyển giao, hình thức, thủ tục giao nhận, hồ sơ, tài liệu kèm theo…;
(2) Ra quyết định thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản:
- Phạm vi ra quyết định: Căn cứ Điều 65 Luật Phục hồi, phá sản 2025 về nội dung của Quyết định tuyên bố doanh nghiệp hợp tác xã phá sản, kế thừa quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 12/6/2018 quy định việc phối hợp trong thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, dự thảo Nghị định tiếp tục quy định Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền ra quyết định thi hành phần nghĩa vụ dân sự liên quan đến tài sản, buộc thực hiện công việc nhất định hoặc không được thực hiện công việc nhất định trong quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, thu hồi nợ và xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp hợp đồng có bảo đảm chưa đến hạn, việc bán tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã; các vấn đề khác.
- Thủ tục ra quyết định: Khoản 2 Điều 76 Luật Phục hồi phá sản quy định, “trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm chủ động ra quyết định thi hành và phân công Chấp hành viên phụ trách vụ việc”. Trên cơ sở đó, dự thảo Nghị định dự kiến quy định như sau: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án đối với mỗi quyết định tuyên bố phá sản.
Bên cạnh việc quy trình hóa, hồ sơ nhiệm vụ cũng phản ánh tính cấp bách về thời gian và yêu cầu hoàn thành văn bản để kịp có hiệu lực cùng thời điểm Luật Phục hồi, phá sản 2025 có hiệu lực. Điều này đòi hỏi nội dung Nghị định phải tập trung vào các vấn đề thật sự cần thiết, giảm tối đa sự trùng lặp với Luật và ưu tiên những quy định “đủ dùng” để triển khai ngay.
Ngày 10/01/2026 Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) ban hành Kế hoạch số 10/KH-TANDTC triển khai thi hành Luật Phục hồi, phá sản. Theo Phụ lục 02 kèm theo Kế hoạch, Bộ Tư pháp được đề nghị xây dựng 02 Nghị định, gồm: (i) Nghị định quy định về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản; (ii) Nghị định quy định về thi hành quyết định tuyên bố phá sản. Cả 02 Nghị định đều được xây dựng theo thủ tục rút gọn để có hiệu lực cùng thời điểm với Luật Phục hồi, phá sản (ngày 01/3/2026).
V. Mục đích, quan điểm xây dựng và nguyên tắc kế thừa TTLT 07/2018
Mục đích ban hành Nghị định, theo tinh thần hồ sơ trình, là quy định chi tiết nội dung Luật giao và hướng dẫn trình tự, thủ tục thi hành, nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đơn giản hóa thủ tục và rút ngắn thời gian thi hành.
Việc ban hành Nghị định nhằm quy định chi tiết các nội dung được giao tại Luật Phục hồi, phá sản năm 2025, đồng thời quy định các biện pháp thi hành Luật này, bảo đảm cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất để triển khai thực hiện hiệu quả, đồng bộ các quy định về thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025.
Về nguyên tắc kế thừa, có thể khái quát theo hướng: (i) giữ những quy định TTLT 07/2018 đã vận hành ổn định, phù hợp Luật mới; (ii) sửa đổi những quy định không còn tương thích với thiết kế Chương VI của Luật 2025; (iii) bổ sung những quy định mà Luật giao Chính phủ quy định chi tiết hoặc thực tiễn cho thấy còn thiếu quy trình.
VI. Kết luận
Tổng hợp các căn cứ pháp lý, yêu cầu thực tiễn và những điểm nhấn trong thiết kế mới của Luật Phục hồi, phá sản 2025, có thể khẳng định: ban hành Nghị định của Chính phủ về trình tự, thủ tục tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản là cần thiết và hợp lý. Nghị định sẽ là công cụ chuẩn hóa quy trình, phân định trách nhiệm, tăng cường cơ chế phối hợp và bảo đảm áp dụng thống nhất, đồng thời kế thừa các chuẩn mực nghiệp vụ từ TTLT 07/2018 nhưng được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với Luật mới.