Điểm mới cơ bản của Nghị định số 64 /2026/NĐ-CP ngày 28/02/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản

10/03/2026


Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhất là Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Quốc hội Khóa XV đã thông qua Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật Phục hồi, phá sản), thay thế Luật Phá sản năm 2014 nhằm hoàn thiện thể chế, góp phần giải phóng sức sản xuất, khơi thông nguồn lực, tăng cường hội nhập quốc tế, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Luật Phục hồi, phá sản đã sửa đổi căn bản quy định về thẩm quyền, thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản, trong đó có thủ tục định giá, định giá lại, bán tài sản; khắc phục tình trạng một số quy định không thống nhất giữa Luật Phá sản năm 2014 và Luật THADS. Luật Phục hồi, phá sản giao Chính phủ quy định chi tiết về thẩm quyền và thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản (khoản 5 Điều 76); định giá tài sản và bán tài sản (khoản 7 Điều 77). Bên cạnh 02 nội dung được Luật Phục hồi, phá sản giao quy định chi tiết, thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định còn có nhiệm vụ quy định những biện pháp cần thiết để thi hành Luật.
Ngày 24 tháng 01 năm 2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 163/QĐ-TTg về Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Phục hồi, phá sản, trong đó phân công Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về thi hành quyết định tuyên bố phá sản theo thủ tục rút gọn và có hiệu lực cùng với hiệu lực của Luật Phục hồi, phá sản (ngày 01/3/2026).
Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2026/NĐ-CP ngày 28/02/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, Nghị định, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2026.
Nghị định gồm 03 Chương, 20 Điều: Chương I. Quy định chung; Chương II. Thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản, gồm các mục: Thủ tục chung; định giá, bán tài sản và áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án; Chấp hành viên giám sát hoạt động của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; Chương III. Điều khoản thi hành.
Nghị định đã tiếp tục thực hiện nhiệm vụ thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về hoàn thiện pháp luật THADS, trong đó có yêu cầu về “rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí” theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương và yêu cầu về thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị trong hoạt động THADS; khắc phục những hạn chế, bất cập, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án, trong đó có quyết định tuyên bố phá sản được thực thi hiệu quả; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước; góp phần giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, tính nghiêm minh của pháp luật; tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, với các nội dung cơ bản sau đây:
1. Thủ tục chung
Nghị định quy định các thủ tục để thi hành quyết định tuyên bố phá sản từ thời điểm cơ quan THADS nhận chuyển giao Quyết định tuyên bố phá sản đến khi kết thúc việc thi hành án, cụ thể:
1.1. Về thẩm quyền thi hành quyết định tuyên bố phá sản
Theo quy định tại khoản 4 Điều 121 Luật Phá sản 2014 và Điều 5 Thông tư liên tịch số 07 thì thẩm quyền thi hành quyết định tuyên bố phá sản được quy định như sau:
- Đối với tài sản thanh lý: Sau khi có quyết định thi hành án chủ động, Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc thanh lý tài sản. Sau 02 năm không thực hiện được việc thanh lý tài sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc thanh lý tài sản phải chấm dứt việc thanh lý tài sản và bàn giao cho cơ quan THADS xử lý theo quy định của pháp luật (khoản 4 Điều 121 Luật Phá sản 2014).
- Đối với những nội dung thi hành phần nghĩa vụ dân sự liên quan đến tài sản, buộc thực hiện công việc nhất định hoặc không được thực hiện công việc nhất định trong quyết định tuyên bố phá sản, cưỡng chế thu hồi tài sản, giao tài sản cho người mua được tài sản thì do Chấp hành viên tổ chức thi hành theo quy định của Luật THADS (Điều 5 Thông tư liên tịch số 07).
Như vậy, theo quy định hiện hành, việc tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản do 02 cơ quan, tổ chức thực hiện (Chấp hành viên, cơ quan THADS và Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản). Quy định hiện hành đã phát sinh những vướng mắc, bất cập. Do đó, Luật Phục hồi, phá sản đã sửa đổi theo hướng: Sau khi cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành án thì Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản; quá trình thực hiện, trường hợp xét thấy cần thiết phải thực hiện các biện pháp cưỡng chế thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề nghị cơ quan THADS thực hiện cưỡng chế để thu hồi, giao tài sản theo quy định của pháp luật về THADS. Như vậy, trách nhiệm chính tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản thuộc về Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; Chấp hành viên, cơ quan THADS có nhiệm vụ giám sát; thực hiện cưỡng chế khi có đề nghị.
Nội dung này đã được quy định tại Điều 76 Luật Phục hồi, phá sản. Nghị định quy định chi tiết về thủ tục Thủ trưởng cơ quan THADS ra một quyết định thi hành án đối với mỗi quyết định tuyên bố phá sản và quy định rõ trình tự, thủ tục ra quyết định thi hành án thực hiện theo quy định của Luật THADS.
1.2. Về trình tự, thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản
Để bảo đảm hiệu quả thi hành các quyết định tuyên bố phá sản, Nghị định cũng đã quy định những nội dung sau:
(1) Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành quyết định tuyên bố phá sản nhằm bảo đảm hiệu lực của quyết định, tính nghiêm minh của pháp luật; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
(2) Thủ tục giao nhận quyết định tuyên bố phá sản, trong đó, để thuận lợi trong quá trình tổ chức thi hành, căn cứ khoản 6 Điều 65 Luật Phục hồi, phá sản, Nghị định quy định khi chuyển giao quyết định tuyên bố phá sản cho cơ quan THADS có thẩm quyền, Tòa án gửi kèm theo danh sách chủ nợ, người mắc nợ; văn bản chỉ định hoặc thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và các tài liệu khác có liên quan.
(3) Thủ tục thông báo, gửi quyết định và văn bản khác về thi hành quyết định tuyên bố phá sản; thủ tục cơ quan THADS yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc thanh lý tài sản.
Điều 17 Luật Phục hồi, phá sản quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản trong vụ việc phục hồi, phá sản; tuy nhiên chưa quy định cụ thể về thẩm quyền, thủ tục thực hiện thông báo, gửi quyết định, văn bản khác về thi hành quyết định tuyên bố phá sản. Do đó, trên cơ sở Luật THADS; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THADS, Quản tài viên tại Luật Phục hồi, phá sản và kế thừa quy định tại Điều 18 Thông tư liên tịch số 07, Nghị định quy định thẩm quyền, thời hạn, hình thức thông báo, gửi văn bản về thi hành quyết định tuyên bố phá sản. Theo đó:
- Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản ban hành văn bản, quyết định về thi hành quyết định tuyên bố phá sản phải thông báo văn bản, quyết định đó cho Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự và người tham gia thủ tục phá sản để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản, quyết định đó.
Thời hạn thông báo, gửi văn bản, quyết định là 03 ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản, quyết định. Thủ tục thông báo, gửi thực hiện theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản và pháp luật về thi hành án dân sự.
- Việc thông báo, gửi các văn bản, quyết định về thi hành quyết định tuyên bố phá sản do cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên ban hành thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
(4) Thủ tục xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản: Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, căn cứ khoản 2 Điều 10 Luật Phục hồi, phá sản, Nghị định quy định rõ về thẩm quyền, hình thức, thời hạn, thủ tục, trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong xác minh, thu thập thông tin, tài liệu. Theo đó: Trong thời hạn 09 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên quy định tại Điều 5 Nghị định này, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản; của người mắc nợ, người có tài sản bảo đảm theo quyết định tuyên bố phá sản và của người khác có liên quan.
Người mắc nợ, người có tài sản bảo đảm theo quyết định tuyên bố phá sản có trách nhiệm kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, trường hợp phát sinh chi phí thì phải thanh toán theo quy định và được xác định là chi phí phá sản.
(5) Nghị định quy định thủ tục nộp tiền vào tài khoản của cơ quan THADS
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành quyết định tuyên bố phá sản, Chấp hành viên có văn bản đề nghị Tòa án chuyển số tiền còn lại mà Tòa án đã thu được từ tài khoản ngân hàng do Tòa án chỉ định vào tài khoản ngân hàng do cơ quan thi hành án dân sự chỉ định để xử lý theo quy định. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Tòa án có trách nhiệm chuyển số tiền thu được cho cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản đã trả trước tiền thuê theo quy định tại khoản 2 Điều 79 của Luật Phục hồi, phá sản thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên về việc tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có văn bản đề nghị và ấn định thời hạn để chủ sở hữu tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã thuê chuyển tiền theo quy định tại khoản 3 Điều này.
Người mua, người nhận tài sản; chủ sở hữu tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản thuê và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phải chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng do cơ quan thi hành án dân sự chỉ định và thông báo cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản biết.
Chi phí chuyển tiền khi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên gửi các khoản tiền thu được vào tài khoản ngân hàng do cơ quan thi hành án dân sự chỉ định được thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản tại thời điểm thực hiện việc chuyển tiền.
Luật Phục hồi, phá sản không có quy định về việc mở tài khoản của Quản tài viên trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc phá sản, mà chỉ có quy định về việc Thẩm phán mở tài khoản ở giai đoạn giải quyết việc phá sản tại Tòa án, còn cơ quan THADS mở tài khoản để thu tiền ở giai đoạn thi hành quyết định tuyên bố phá sản ((khoản 7 Điều 21, điểm b khoản 3 Điều 76 Luật Phục hồi, phá sản). Khoản 6 Điều 12 Luật Phục hồi, phá sản quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THADS là: “Phân chia tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quyết định của Tòa án”. Để phân chia tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã, khoản 3 Điều 76 Luật Phục hồi, phá sản quy định cơ quan THADS phải thực hiện thủ tục mở một tài khoản tại ngân hàng đứng tên cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành quyết định tuyên bố phá sản để gửi các khoản tiền thu hồi được của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản. Việc phân chia đã được quy định tại Điều 46 Luật Phục hồi, phá sản.
Để thuận tiện cho việc phân chia tiền của cơ quan THADS, tránh thêm thủ tục tiền chuyển đi chuyển lại mất thời gian, dễ gây thất thoát và thực hiện đúng chức năng phân chia tiền của cơ quan THADS, khoản 3 Điều 8 Nghị định đã quy định: “Người mua, người nhận tài sản; chủ sở hữu tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản thuê và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phải chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng do cơ quan thi hành án dân sự chỉ định và thông báo cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản biết”.
Quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định cũng nhằm thực hiện chủ trương kiểm soát quyền lực trong hoạt động thi hành án theo Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị; hạn chế phát sinh tiêu cực trong việc sử dụng tiền không đúng mục đích hoặc xâm tiêu. Ngay cả trong hoạt động THADS, tinh thần chung cũng là hạn chế việc CHV được sử dụng, tiếp cận đến tiền thi hành án.
Việc người mua tài sản nộp tiền vào tài khoản của cơ quan THADS chỉ định để thi hành quyết định tuyên bố phá sản mà không nộp tiền vào tài khoản của Quản tài viên cũng giống như quy định của pháp luật về THADS, theo đó thì người mua tài sản phải nộp tiền vào tài khoản của cơ quan THADS mà không phải tài khoản của Chấp hành viên.
(6) Về thủ tục thanh toán tiền, Nghị định quy định Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày cơ quan thi hành án dân sự nhận được tiền hoặc kể từ ngày giao tài sản cho người mua, người nhận tài sản, Chấp hành viên thực hiện thanh toán tiền theo quyết định tuyên bố phá sản. Thủ tục thanh toán thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Các chi phí phát sinh trong quá trình thi hành quyết định tuyên bố phá sản là chi phí phá sản được thanh toán theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản. Nội dung chi, mức chi, thủ tục tạm ứng, hoàn tạm ứng, lập dự toán, chấp hành và quyết toán chi phí phát sinh trong quá trình thi hành quyết định tuyên bố phá sản thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Người được thi hành án trong quyết định tuyên bố phá sản phải nộp phí thi hành án theo quy định của pháp luật về phí thi hành án.
Đối với khoản tiền, tài sản chi trả cho người được thi hành án do Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thu được từ việc bán tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã mà Chấp hành viên không ra quyết định cưỡng chế thì cơ quan thi hành án dân sự không thu phí thi hành án.
2. Thủ tục định giá, bán tài sản và áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
Luật Phá sản năm 2014 và Thông tư liên tịch số 07 đã có quy định về thủ tục định giá, định giá lại, bán tài sản của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản (Điều 122, 123, 124 Luật Phá sản và Điều 9, 10 Thông tư liên tịch số 07) nhưng chưa rõ, chưa đầy đủ. Do đó, Nghị định quy định cụ thể như sau:
2.1. Định giá, định giá lại
(1) Định giá
Khoản 1 Điều 77 Luật Phục hồi, phá sản quy định, “trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải tổ chức việc định giá tài sản theo quy định của pháp luật”. Trên cơ sở Luật THADS và kế thừa quy định tại Thông tư liên tịch số 07, Nghị định quy định như sau:
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản của Chấp hành viên, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản lựa chọn và ký hợp đồng dịch vụ với doanh nghiệp thẩm định giá để định giá tài sản; đối với tài sản Chấp hành viên ra quyết định kê biên thì thời hạn là 05 ngày làm việc kể từ ngày thực hiện xong việc kê biên tài sản.
Việc lựa chọn và ký hợp đồng dịch vụ với doanh nghiệp thẩm định giá thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản của Chấp hành viên, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải xác định giá đối với tài sản quy định tại khoản 3 Điều 77 của Luật Phục hồi, phá sản. Trường hợp cần thiết, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thuê doanh nghiệp thẩm định giá để tư vấn hoặc tham khảo ý kiến của cơ quan chuyên môn liên quan đến tài sản và xác định giá tài sản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản của Chấp hành viên.
(2) Định giá lại
Khoản 4 Điều 77 Luật Phục hồi, phá sản quy định Chấp hành viên quyết định định giá lại tài sản khi có vi phạm dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản. Trên cơ sở đó, Nghị định quy định cụ thể các trường hợp định giá lại bao gồm: có căn cứ xác định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý thanh lý tài sản hoặc doanh nghiệp thẩm định giá có vi phạm nghiêm trọng dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản; có kết luận của cơ quan, người có thẩm quyền về việc Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý thanh lý tài sản hoặc doanh nghiệp thẩm định giá có vi phạm nghiêm trọng dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản. Nghị định cũng quy định về thời hạn, thủ tục, trách nhiệm chịu chi phí liên quan đến việc thực hiện định giá lại.
2.2. Thủ tục bán tài sản
Khoản 2, khoản 3 Điều 77 Luật Phục hồi, phá sản quy định, tài sản được bán theo các hình thức bao gồm: Bán đấu giá; bán không qua thủ tục đấu giá đối với các tài sản có nguy cơ bị phá hủy; tài sản bị giảm đáng kể về giá trị hoặc có giá trị nhỏ; tài sản mà chi phí bảo quản, lưu giữ, trông giữ lớn hơn giá trị của tài sản đó.
Trên cơ sở Luật THADS và kế thừa quy định tại Thông tư liên tịch số 07, Nghị định quy định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý thực hiện trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản để thi hành quyết định tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về THADS; quy định cụ thể thời hạn, thủ tục bán không qua thủ tục đấu giá đối với tài sản có nguy cơ bị phá hủy; tài sản bị giảm đáng kể về giá trị hoặc có giá trị nhỏ; tài sản mà chi phí bảo quản, lưu giữ, trông giữ lớn hơn giá trị của tài sản đó. Cụ thể:
- Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản để thi hành quyết định tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Chấp hành viên có quyền yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề nghị tổ chức hành nghề đấu giá, Hội đồng đấu giá tài sản, Đấu giá viên tạm dừng, dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá tài sản khi có căn cứ theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm thực hiện ngay yêu cầu của Chấp hành viên, trường hợp không thực hiện thì phải chịu trách nhiệm, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Khoản tiền đặt trước theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 39 của Luật Đấu giá tài sản được nộp vào tài khoản ngân hàng do cơ quan thi hành án dân sự chỉ định để thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản.
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả xác định giá, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tổ chức bán không qua thủ tục đấu giá đối với các tài sản quy định tại khoản 3 Điều 77 của Luật Phục hồi, phá sản; đối với tài sản có nguy cơ bị phá hủy hoặc bị giảm đáng kể về giá trị thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải tổ chức bán trong thời hạn 24 giờ.
Việc bán tài sản phải lập thành biên bản, có chữ ký của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, người mua tài sản và người làm chứng (nếu có).
2.3. Thủ tục thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành án
Khoản 4 Điều 76 Luật Phục hồi, phá sản quy định, “Trường hợp xét thấy cần thiết phải thực hiện các biện pháp cưỡng chế thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề nghị cơ quan THADS thực hiện các biện pháp cưỡng chế để thu hồi, giao tài sản theo quy định của pháp luật về THADS”. Trên cơ sở đó, Nghị định quy định những nội dung sau:
- Trường hợp Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đã thông báo, yêu cầu, vận động, thuyết phục mà người nắm giữ, quản lý tài sản; người mắc nợ; người có tài sản bảo đảm theo quyết định tuyên bố phá sản hoặc những người khác có nghĩa vụ không tự nguyện thi hành và có đủ căn cứ để áp dụng biện pháp cưỡng chế thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có văn bản đề nghị Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật THADS.
- Chấp hành viên tổ chức cưỡng chế theo quy định của pháp luật về THADS. Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải tham gia và phối hợp với Chấp hành viên trong quá trình tổ chức cưỡng chế.
3. Giám sát Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản
Luật Phá sản năm 2014 đã quy định về việc Chấp hành viên giám sát Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản. Trên cơ sở kế thừa quy định tại Thông tư liên tịch số 07, Nghị định quy định để bảo đảm đầy đủ, cụ thể, rõ trách nhiệm của các bên, cụ thể: thời điểm, hình thức, nội dung giám sát của Chấp hành viên; hậu quả, trách nhiệm của Chấp hành viên và Quản tài viên doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.
4. Điều khoản chuyển tiếp
Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà chưa thi hành xong thì việc tổ chức thi hành được thực hiện theo quy định của Luật Phá sản số 51/2014/QH13, Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 112/2025/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 12 tháng 6 năm 2018 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp trong thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.