Sign In

Kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án - một số vấn đề từ thực tiễn

20/08/2018

Kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án - một số vấn đề từ thực tiễn
Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết, chúng tôi đi sâu phân tích một số vấn đề cần lưu ý khi kê biên, xử lý tài sản chung của người phải thi hành án và phân tích một số bất cập của quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này.
Abstract: Within the scope of this paper, we analyze some issues that need to be taken into account when distraining, dealing with joint’s assets of the judgment debtor and analyzing some inadequacies of the current law on the issue.
Vấn đề cưỡng chế kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án được quy định tại Điều 71, Điều 74 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự); khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP); khoản 7 Điều 2 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự (Thông tư liên tịch số 11).
1. Một số vấn đề cần lưu ý khi tiến hành kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án
Thực tiễn công tác thi hành án dân sự cho thấy, việc kê biên xử lý tài sản chung của người phải thi hành án với người khác để thi hành án thường rất khó khăn, phức tạp. Đây cũng là vấn đề mà các chấp hành viên thường có nhiều sai sót, vi phạm về trình tự, thủ tục dẫn đến phát sinh khiếu nại, tố cáo. Khi tiến hành kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án, cần lưu ý một số vấn đề sau:
Thứ nhất, việc xác định tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác
Trước hết, cần xác định được tài sản chung theo quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án dân sự là gì. Đây là vấn đề tưởng như đã rõ ràng nhưng vẫn có những cách hiểu khác nhau dẫn đến áp dụng các quy định của pháp luật không chính xác, ảnh hưởng đến cả quá trình tổ chức thi hành án. Theo Điều 207 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản. Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất. Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung”.
Trên thực tế có rất nhiều tài sản là sở hữu chung của nhiều chủ sở hữu. Ví dụ như tài sản chung của vợ chồng, tài sản công ty, tài sản chung của thôn, làng… Tuy nhiên, tài sản chung của người phải thi hành án với người khác theo quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án dân sự cần phải được hiểu thống nhất, đó là tài sản thuộc sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trong trường hợp họ là người thế chấp, bảo lãnh cho người phải thi hành án) với người khác không liên quan đến bản án, quyết định đang được tổ chức thi hành. Do vậy, tài sản chung trong các vụ án hôn nhân gia đình, chia thừa kế đã được Tòa án giải quyết thì không thuộc trường hợp áp dụng theo Điều 74 nêu trên, vì người được thi hành án, người phải thi hành án đều là những người trong cùng bản án, quyết định. Hơn nữa, tài sản chung của họ đã được Tòa án giải quyết, phân chia. Chính vì thế, không thể yêu cầu đương sự khởi kiện để yêu cầu Tòa án phân chia thêm một lần nữa, cũng như không dành quyền ưu tiên mua tài sản cho họ. Mặc dù vậy, họ vẫn có quyền thỏa thuận nhận tài sản để khấu trừ nợ, nhận tài sản sau hai lần giảm giá (theo Điều 104 Luật Thi hành án dân sự) hoặc mua tài sản thông qua việc bán đấu giá như những người khác.
Thứ hai, nguyên tắc khi kê biên xử lý tài sản chung của người phải thi hành án với người khác
Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác không đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của người phải thi hành án về việc tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án, các chi phí liên quan. Trong trường hợp này, chấp hành viên lập biên bản giải thích cho họ về việc phải chịu mọi chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản đó và tiến hành kê biên tài sản để thi hành án. Người phải thi hành án bị hạn chế quyền thực hiện giao dịch đối với các tài sản khác cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án[1].
Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên tài sản khác của doanh nghiệp phải thi hành án, nếu sau khi đã khấu trừ tài khoản, xử lý vàng, bạc, đá quý, kim khí quý khác, giấy tờ có giá của doanh nghiệp đang do doanh nghiệp quản lý hoặc đang do người thứ ba giữ mà vẫn không đủ để thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định có quyết định khác hoặc đương sự có thỏa thuận khác[2].
Thứ ba, xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung  
- Trường hợp tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung, được xử lý như sau:
+ Đối với tài sản chung có thể chia được thì chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án[3]. Thực tiễn cho thấy, việc xác định phần sở hữu của các chủ sở hữu chung hầu hết chỉ được xác định dựa trên tỷ lệ giá trị tài sản mỗi người được sở hữu, mà rất khó để xác định trên thực tế. Ví dụ: A và B cùng mua chung một thửa đất 200m2, số tiền mà A và B bỏ ra là bằng nhau. Trong đó, A là người phải thi hành án. Như vậy, ta dễ dàng xác định được phần sở hữu chung của A là 1/2 giá trị thửa đất. Tuy nhiên, để kê biên 1/2 thửa đất trên là tương đối khó khăn đối với chấp hành viên kể cả trường hợp phân chia không làm giảm giá trị của thửa đất. Vì để kê biên phần đất của A thì chấp hành viên phải xác định được phần đất của A ở chỗ nào, tứ cận ra sao. Mặc dù khi chia thì A và B mỗi người được 100m2, nhưng rõ ràng trên thực tế, vị trí hai thửa đất sẽ có giá trị khác nhau. Do vậy, việc khiếu nại của A hoặc B trong trường hợp này là không thể tránh khỏi, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận. Chính vì vậy, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án thường chỉ được chấp hành viên áp dụng khi tài sản rõ ràng, dễ phân chia, đã được phân chia theo bản án, quyết định hoặc do các đương sự thỏa thuận.
+ Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ[4]. Đây là giải pháp được nhiều chấp hành viên áp dụng nhất khi kê biên, xử lý tài sản chung của người phải thi hành án với người khác. Vì rất khó có thể khẳng định một tài sản khi phân chia mà không làm giảm giá trị của tài sản.
- Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung, theo khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự và khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, việc phân chia được tiến hành như sau:
+ Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng chung của vợ chồng thì chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Thông thường, khi xác định phần sở hữu của vợ, chồng, chấp hành viên sẽ theo nguyên tắc chia đôi giá trị tài sản và sau đó thông báo cho vợ hoặc chồng của người phải thi hành án biết.
+ Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết. Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ.
+ Đối với tài sản chung khác: Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại Điều 6 Luật Thi hành án dân sự hoặc thỏa thuận không được và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự. Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án (khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự).
Như vậy, theo quy định hiện nay thì đối với tài sản chung chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản mà không phải là tài sản của vợ chồng, hộ gia đình, trong trường hợp đương sự, người có quyền sở hữu, sử dụng chung không thỏa thuận được việc phân chia tài sản, thì chấp hành viên chỉ kê biên, xử lý tài sản sau khi đã có bản án của Tòa án về việc xác định tài sản chung.
Thứ tư, về việc ưu tiên mua tài sản của chủ sở hữu chung 
Người được quyền mua tài sản là người có chung quyền sở hữu, sử dụng tài sản với người phải thi hành án.
Theo quy định tại khoản 7 Điều 2 Thông tư liên tịch số 11, thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá, chấp hành viên thông báo cho chủ sở hữu chung quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án. Đồng thời, khoản 3 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự quy định: Trước khi bán tài sản lần đầu đối với tài sản thuộc sở hữu chung, chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản được bán theo quy định tại Điều 101 Luật Thi hành án dân sự. Khi chủ sở hữu chung mua tài sản kê biên thì chấp hành viên thực hiện theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 11, cụ thể, đối với tài sản là bất động sản và động sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng, chấp hành viên ra quyết định bán tài sản cho chủ sở hữu chung; đối với tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì chấp hành viên lập biên bản giao tài sản cho chủ sở hữu chung.
2. Những khó khăn, vướng mắc và giải pháp khắc phục
Có thể thấy, các quy định pháp luật hiện hành đã quy định tương đối đầy đủ và rõ ràng về hướng xử lý và trách nhiệm của các bên liên quan trong vấn đề xác định tài sản thuộc sở hữu chung, đồng thời, quy định về quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở hữu chung. Tuy nhiên, thực tiễn xử lý tài sản chung của người phải thi hành án với người khác để đảm bảo thi hành án còn phát sinh một số vấn đề khó khăn, vướng mắc như sau:
Một là, việc xác định tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung còn gặp nhiều khó khăn
Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng và hộ gia đình đòi hỏi phải tuân thủ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật có liên quan. Đặc biệt, các quy định về chế độ tài sản chung, riêng của vợ, chồng đối với tài sản là bất động sản rất phức tạp nên việc xác minh làm rõ về nguồn gốc tài sản là rất khó khăn. Việc xác định, phân chia tài sản chung của vợ chồng do đó cũng rất dễ tiềm ẩn những thiếu sót. Đối với quy định trường hợp vợ, chồng hoặc cá nhân trong hộ gia đình khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo hợp lệ, thì trên thực tế không hiệu quả do đa phần đương sự không thực hiện việc khởi kiện ra Tòa án. Bởi vì, người phải thi hành án thì không muốn thi hành hoặc tìm mọi cách để kéo dài thời gian thi hành án, còn những người còn lại thì cho rằng đó không phải là việc của họ vì họ không có tranh chấp gì với người phải thi hành án và đặc biệt là họ không khởi kiện thì cũng đã có chấp hành viên khởi kiện thay.
Bên cạnh đó, theo chúng tôi, quy định thời hạn được nêu tại khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự là quá dài, bởi lẽ, việc khởi kiện để phân chia tài sản không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của các đồng sở hữu, vì vậy, nên xem xét rút ngắn thời gian khởi kiện này. Mặt khác, sau khi Tòa án thụ lý lại phải mất một thời gian dài để Tòa án giải quyết việc phân chia tài sản dẫn đến kéo dài thời gian tổ chức thi hành án.
Đối với quy định chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu, sử dụng tài sản theo thủ tục tố tụng dân sự khi chủ sở hữu, sử dụng tài sản chung và người được thi hành án không khởi kiện, chúng tôi ủng hộ quan điểm đa số cho rằng cần sửa đổi quy định này vì một số lý do sau: 
- Trong việc xử lý tài sản chung thì người có nghĩa vụ và quyền lợi trực tiếp về tài sản trong việc thi hành án là đương sự và người có chung quyền sở hữu với người phải thi hành án. Do vậy, trách nhiệm khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu, sử dụng chỉ nên quy định cho đương sự và những người có chung quyền sở hữu với người phải thi hành án. Đặc biệt là người được thi hành án, vì việc khởi kiện này nhằm mục đích để giải quyết nhanh việc thi hành án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
- Việc quy định chấp hành viên có trách nhiệm yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu, sử dụng tài sản theo thủ tục tố tụng dân sự khi các bên liên quan không khởi kiện trong một số trường hợp có thể sẽ tạo ra tâm lý ỉ lại của đương sự, người có tài sản chung để kéo dài việc thi hành án.
- Chấp hành viên là công chức, có chức năng, nhiệm vụ tổ chức thi hành bản án, quyết định và các công việc phụ trợ khác nhằm mục đích tổ chức thi hành án (như tổ chức bán đấu giá tài sản, tư vấn cho đương sự để họ thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ thi hành án...). Việc thực hiện yêu cầu phân chia quyền sử dụng, sở hữu tài sản chỉ thuộc về những người có quyền sở hữu, sử dụng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong khi chấp hành viên là người không thuộc một trong các đối tượng này mà lại trao cho họ thực hiện các quyền này thì có vẻ chưa hợp lý và thực tế nhiều hệ lụy tiếp theo liên quan có thể phát sinh, ví dụ như: Tư cách tham gia tố tụng; trách nhiệm có liên quan trong trường hợp bản án, quyết định giải quyết tiếp theo ở các giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; thời gian tham gia tố tụng… Như vậy, những bế tắc hoặc là không được thực hiện triệt để ở các giai đoạn trước đó (giai đoạn điều tra, xét xử, giai đoạn thực hiện quyền của người phải thi hành án, giai đoạn thực hiện quyền của người được thi hành án), cuối cùng pháp luật lại trao công việc nộp đơn yêu cầu khởi kiện vụ án cho chấp hành viên về công việc không liên quan đến quyền và lợi ích của họ. Ngoài ra, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP về trao quyền cho chấp hành viên xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản là quy định còn thiếu thống nhất, thậm chí là mâu thuẫn với các văn bản pháp luật khác. Ví dụ: Điểm c khoản 1 Điều 170 Luật Thi hành án dân sự quy định, một trong các nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong thi hành án dân sự đó là thụ lý và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng tài sản, hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án; hoặc khoản 9 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, một trong những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đó là yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
Do vậy, trong thời gian tới khi sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự và các quy định khác có liên quan, những quy định trên cần cân nhắc để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, theo hướng không trao quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia tài sản này cho chấp hành viên, không nên xem đây là quyền phái sinh của chấp hành viên, đồng thời cũng không nên quy định chấp hành viên có thẩm quyền xác định quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản trong khối tài sản chung, vì đây là một trong những thẩm quyền đặc trưng của cơ quan Tòa án.
Hai là, quy định về thời hạn ưu tiên mua tài sản chung còn bất cập 
Chúng tôi ủng hộ quan điểm cho rằng, Luật Thi hành án dân sự đã áp dụng tương tự theo quy định tại khoản 3 Điều 223 Bộ luật Dân sự năm 2005 và được kế thừa tại khoản 3 Điều 218 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về định đoạt tài sản chung. Đây là trường hợp Bộ luật Dân sự quy định cho chủ sở hữu chung khi tự định đoạt phần sở hữu của mình. Có thể nói, việc áp dụng quy định này vào khoản 3 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự là không sai. Tuy nhiên, việc giữ nguyên thời hạn ưu tiên mua tài sản chung là 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản kể từ ngày được thông báo hợp lệ, hơn nữa, còn quy định thêm đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ, trong khi đó, theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Đấu giá tài sản năm 2016 thì tối thiểu phải có 30 - 45 ngày cho một phiên bán đấu giá. Do đó, quy định về thời hạn ưu tiên mua theo quy định tại khoản 3 Điều 74 nói trên theo chúng tôi là quá dài, làm mất nhiều thời gian và thủ tục cho quá trình tổ chức thi hành án.
Từ những khó khăn, bất cập như vậy, tác giả đề xuất cần nghiên cứu và sửa đổi các quy định nêu trên cho phù hợp hơn với thực tiễn, theo hướng xác định Tòa án là chủ thể duy nhất có thẩm quyền phân chia tài sản chung ở giai đoạn thi hành án dân sự; cân nhắc loại bỏ trách nhiệm của chấp hành viên trong việc yêu cầu Tòa án xác định phần tài sản chung và xem xét rút ngắn thời hạn ưu tiên mua tài sản chung. Đồng thời, quyền ưu tiên mua tài sản chung cũng chỉ nên quy định ở lần đầu tiên bán tài sản để rút ngắn thời gian tổ chức thi hành án và nâng cao hiệu quả kê biên, xử lý tài sản chung của người phải thi hành án trong thực tế.
Hồ Quân Chính – Cục Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh
Hoàng Thị Thanh Hoa – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên. TP. Hà Nội
Tài liệu tham khảo:
[1]. Khoản 2, khoản 4  Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.

[2]. Khoản 5 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.
[3]. Điểm a khoản 2 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự.
[4]. Điểm b khoản 2 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự.
 


Theo Tạp chí Dân chủ và Pháp luật

Các tin đã đưa ngày: