Áp lực từ hạ tầng, dữ liệu và kết nối liên thông
Tại Hà Nội, Phó Trưởng THADS TP Nguyễn Thị Thanh Tú chia sẻ, khó khăn nổi bật trước hết nằm ở quy mô và tính phức tạp của hệ thống. Với số lượng lớn cán bộ, công chức và nhiều đơn vị trực thuộc, việc bảo đảm hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) đồng bộ, đường truyền ổn định để vận hành các nền tảng số tập trung là thách thức không nhỏ. Thực tế đã ghi nhận tình trạng nghẽn mạng, gián đoạn kết nối khi lượng truy cập tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ xử lý công việc.
Bên cạnh đó, việc chuyển đổi từ phương thức làm việc truyền thống sang môi trường số cũng đặt ra rào cản về kỹ năng và tâm lý. Một bộ phận cán bộ, đặc biệt ở cấp cơ sở hoặc lớn tuổi, còn lúng túng, e ngại thay đổi. Về dữ liệu và pháp lý, dù đã có chủ trương kết nối liên thông với Tòa án, song trên thực tế, việc chuyển giao bản án, quyết định vẫn chủ yếu bằng giấy. Một số quy định pháp luật chưa theo kịp yêu cầu số hóa, đặc biệt trong xác định giá trị pháp lý của chứng từ điện tử, gây vướng mắc trong các hoạt động nghiệp vụ như xác minh tài sản, phong tỏa tài khoản, nhất là với các vụ việc phức tạp, có yếu tố nước ngoài.
Tại TP Hồ Chí Minh, Phó Trưởng THADS TP Đỗ Phong Hóa cho hay, khó khăn thể hiện rõ ở yêu cầu cao về hạ tầng và công nghệ trong khi nguồn lực còn hạn chế. Hệ thống CNTT giữa các đơn vị chưa đồng bộ; nhu cầu đầu tư máy chủ, lưu trữ, bảo mật lớn, trong khi việc vận hành các nền tảng hiện đại như trung tâm điều hành thông minh đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao và đội ngũ chuyên sâu.
Một điểm nghẽn lớn khác là dữ liệu còn phân tán, hình thành qua nhiều giai đoạn, lưu trữ trên nhiều hệ thống khác nhau, chưa có kho dữ liệu dùng chung hoàn chỉnh. Khối lượng hồ sơ giấy lớn khiến việc số hóa vừa tốn kém, vừa kéo dài. Đồng thời, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ quan như tòa án, công an, ngân hàng, cơ quan đăng ký tài sản còn hạn chế do hạ tầng và mức độ sẵn sàng chưa đồng đều; quy trình liên ngành chưa được chuẩn hóa trên môi trường số.
Ngoài ra, nguồn nhân lực phục vụ CĐS tại đây còn thiếu và chủ yếu kiêm nhiệm; kinh phí chưa đáp ứng yêu cầu. Về thể chế, một số quy định pháp luật hiện hành chưa tạo điều kiện cho các phương thức mới, như thanh toán điện tử trong thi hành án, phát huy hiệu quả.
Điểm nghẽn từ điều kiện địa bàn, nguồn lực và con người
Tại Tuyên Quang, theo Trưởng THADS tỉnh Nguyễn Tuyên, khó khăn mang tính điển hình của địa bàn miền núi, địa lý phân tán. Một số công chức chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của CĐS, còn tâm lý e dè, thiếu chủ động học hỏi. Trang thiết bị CNTT phần lớn đã cũ, cấu hình thấp; việc triển khai phần mềm trong thời gian gấp khi hệ thống chưa hoàn thiện cũng ảnh hưởng đến hiệu quả công việc.
Khoảng cách địa lý lớn giữa các đơn vị (có nơi cách trụ sở chính hơn 300 km) trong khi chưa có hệ thống họp trực tuyến khiến công tác chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn gặp nhiều trở ngại. Đồng thời, việc phối hợp với đơn vị cung cấp nền tảng số chưa thực sự kịp thời; đặc biệt, chưa có sự kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia và hệ thống của các cơ quan liên quan, làm giảm hiệu quả khai thác dữ liệu.
Tại Thái Nguyên, Trưởng THADS tỉnh Bùi Huy Toàn cho biết, khó khăn nổi bật lại nằm ở chính “lõi” dữ liệu và yếu tố con người. Khối lượng dữ liệu tồn đọng lớn, nhiều hồ sơ chưa đồng nhất, đòi hỏi quá trình “làm sạch” công phu, tốn thời gian và nhân lực. Trong khi đó, năng lực CNTT của một bộ phận cán bộ còn hạn chế, áp lực công việc lớn khiến việc nhập liệu, cập nhật hệ thống gặp nhiều khó khăn, thậm chí phải làm ngoài giờ để bảo đảm tiến độ.
Đáng chú ý, thực trạng “thừa cán bộ làm theo cách cũ, thiếu cán bộ làm theo cách mới” phản ánh rõ rào cản về tư duy. Việc chuyển đổi từ phương thức thủ công sang môi trường số không thể diễn ra nhanh chóng khi thói quen làm việc cũ đã ăn sâu. Nếu thiếu sự chỉ đạo quyết liệt và kiểm tra thường xuyên, rất dễ dẫn đến tình trạng làm hình thức, cập nhật đối phó. Bên cạnh đó, đặc thù hồ sơ thi hành án có tính chuyên ngành cao, quy trình phức tạp cũng khiến các phần mềm phát sinh lỗi, cần tiếp tục hoàn thiện.
Có thể thấy, CĐS trong THADS không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà là bài toán tổng thể về thể chế, dữ liệu, nguồn lực và đặc biệt là con người. Những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn địa phương chính là cơ sở quan trọng để hoàn thiện chính sách, bảo đảm quá trình CĐS diễn ra thực chất, hiệu quả và bền vững.
Tại Nghệ An, theo Phó Trưởng THADS tỉnh Nguyễn Đức Tình, đặc thù nổi bật là khối lượng việc và tiền phải thi hành án ngày càng lớn, nhiều vụ việc phức tạp, số lượng đương sự đông, trong khi quy trình tổ chức thi hành án còn rườm rà, kéo dài. Việc tống đạt giấy tờ, xác minh điều kiện thi hành án gặp nhiều khó khăn do thiếu kết nối liên thông dữ liệu về tài sản, thu nhập, cư trú.
Hạ tầng CNTT tại địa phương còn thiếu và lạc hậu, các phần mềm nghiệp vụ hoạt động rời rạc, thiếu kết nối. Kinh phí hạn chế, chưa có biên chế chuyên trách về CNTT và CĐS. Đáng chú ý, hồ sơ điện tử chưa được thừa nhận đầy đủ giá trị pháp lý như hồ sơ giấy, khiến cán bộ còn tâm lý e ngại khi áp dụng.
Triển khai đồng bộ các giải pháp, gắn trách nhiệm cụ thể với từng đơn vị, cá nhân
* Trưởng THADS tỉnh Tuyên Quang Nguyễn Tuyên: Chú trọng dữ liệu, con người và hạ tầng
Chúng tôi xác định CĐS là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Trước hết, đơn vị tập trung nâng cao nhận thức, quyết tâm chính trị trong toàn hệ thống thông qua việc quán triệt các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết 57-NQ/TW, nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt và người đứng đầu.
Cùng với đó, Tuyên Quang đẩy mạnh triển khai Nền tảng số THADS, xây dựng cơ sở dữ liệu theo yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống”, đồng thời tăng cường kết nối, liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia để hình thành hệ sinh thái dữ liệu đồng bộ, phục vụ quản lý, khai thác hiệu quả.
Về điều kiện bảo đảm, địa phương tiếp tục đề xuất đầu tư hạ tầng, trang thiết bị, kinh phí, ưu tiên số hóa hồ sơ chuyên ngành. Đồng thời, chú trọng bố trí, đào tạo đội ngũ công chức có năng lực CNTT đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Bên cạnh đó, vai trò của Ban Chỉ đạo, các tổ triển khai và lực lượng nòng cốt CĐS được phát huy trong việc hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện. Công tác thi đua, khen thưởng gắn với kết quả CĐS cũng được đẩy mạnh nhằm tạo động lực cho các đơn vị, cá nhân tham gia tích cực, bảo đảm hiệu quả trong CĐS.
* Trưởng THADS tỉnh Thái Nguyên Bùi Huy Toàn: Kỷ luật, quyết tâm và cách làm thực chất trong CĐS THADS
Trước những khó khăn trong quá trình CĐS, THADS Thái Nguyên xác định rõ: không vì khó mà làm qua loa, không vì áp lực mà buông lỏng kỷ luật. Các giải pháp được triển khai đồng bộ, gắn trách nhiệm cụ thể với từng đơn vị, cá nhân.
Trọng tâm là vai trò người đứng đầu. Lãnh đạo trực tiếp làm việc với từng đơn vị để nắm tình hình, tháo gỡ vướng mắc, đồng thời đưa kết quả vận hành nền tảng số vào tiêu chí thi đua, coi đây là nhiệm vụ bắt buộc.
Về hạ tầng, tỉnh rà soát, nâng cấp đồng bộ hệ thống máy móc, đường truyền, ưu tiên nguồn lực cho các đơn vị còn khó khăn, không để hạ tầng trở thành “điểm nghẽn”. Công tác tập huấn được triển khai theo hướng “cầm tay chỉ việc”, kết hợp hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên, xử lý ngay các vướng mắc tại cơ sở.
Một điểm nhấn là cách làm “vừa làm, vừa hoàn thiện”, chủ động cập nhật dữ liệu song song với rà soát, chuẩn hóa, tránh dồn việc. Kiểm tra, đôn đốc được thực hiện liên tục, nhất là giai đoạn cao điểm, qua đó chấn chỉnh kịp thời biểu hiện hình thức, từng bước hình thành thói quen làm việc trên môi trường số.
Từ thực tiễn, THADS Thái Nguyên kiến nghị tiếp tục hoàn thiện nền tảng số theo hướng đơn giản, dễ dùng; đẩy mạnh liên thông dữ liệu; gắn CĐS với công tác cán bộ; tăng đầu tư hạ tầng, đào tạo chuyên sâu để bảo đảm hiệu quả bền vững.
* Phó Trưởng THADS tỉnh Nghệ An Nguyễn Đức Tình: Quyết tâm thay đổi nhận thức
Để đẩy mạnh CĐS, chúng tôi cho rằng, cần triển khai đồng bộ các giải pháp, trong đó trọng tâm là hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và thay đổi nhận thức.
Luật THADS (sửa đổi) được kỳ vọng tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho thi hành án điện tử, quản lý dữ liệu và ứng dụng công nghệ. Các quy định mới như công nhận giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, thực hiện thủ tục trên môi trường số, mở rộng thông báo qua phương tiện điện tử, ưu tiên thanh toán chuyển khoản sẽ giúp tăng minh bạch, tiết kiệm chi phí, tạo thuận lợi cho người dân.
Cùng với đó, việc triển khai cần bảo đảm đồng bộ với các luật liên quan và đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia, phục vụ hiệu quả công tác xác minh điều kiện thi hành án.
Về hạ tầng, cần tiếp tục đầu tư, nâng cấp hệ thống theo hướng đồng bộ, liên thông; cải tiến phần mềm quản lý văn bản, trang bị họp trực tuyến và thiết bị hỗ trợ nghiệp vụ. Đồng thời, khuyến khích xã hội hóa trong phát triển các nền tảng số.
Về con người, cần tăng cường đào tạo kỹ năng công nghệ, quản lý dữ liệu; phát huy đội ngũ cán bộ am hiểu CNTT. Đặc biệt, phải thay đổi tư duy từ thủ công sang môi trường số, công khai quy trình, hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ số, tạo nền tảng để CĐS đi vào thực chất.