Tổng hợp một số khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của Nghị định 58/2009/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của luật Thi hành án dân sự năm 2008 về thủ tục Thi hành án dân sự và một số kiến nghị, đề xuất.

12/12/2012


Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về thủ tục thi hành án dân sự (sau đây gọi là Nghị định số 58/2009/NĐ-CP) là văn bản đã có nhiều quy định mang tính đột phá, tháo gỡ được nhiều điểm nghẽn trong công tác thi hành án dân sự trước đó, bằng nhiều quy định mang tính chất xã hội hóa một số lĩnh vực trong công tác thi hành án. Những hướng dẫn mới thể hiện sự phù hợp trong hoạt động nghiệp vụ thi hành án dân sự như: hướng dẫn chi tiết về thẩm quyền ra Quyết định thi hành án, xác định cụ thể các loại việc thuộc diện chủ động thi hành án và loại việc theo đơn yêu cầu; quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án thống nhất là 5 năm. Những quy định này đã khắc phục được tình trạng chung chung trước đây và tạo ra sự bình đẳng giữa các cá nhân, tổ chức trong thi hành án dân sự. Quy định người được thi hành án có trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án đã giảm bớt một phần gánh nặng cho Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án; thủ tục định giá tài sản được quy định chặt chẽ hơn, giảm bớt sự khiếu nại của các đương sự về giá tài sản, giảm bớt rủi ro cho Chấp hành viên do không đủ chuyên môn để quyết định giá tài sản với tư cách là Chủ tịch hội đồng định giá tài sản; hướng dẫn áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn tình trạng người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thi hành án; quy định về biện pháp cưỡng chế chặt chẽ, mở rộng hơn, là cơ sở để cơ quan Thi hành án dân sự và Chấp hành viên thực hiện hiệu quả, không còn lúng túng, sai sót trong việc thực hiện các trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành án; thủ tục thi hành quyết định khẩn cấp tạm thời, công tác xét miễn giảm thi hành án cũng được quy định chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan Thi hành án trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Sự ra đời của Nghị định đã tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc hơn, nhanh chóng đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn, tạo điều kiện cho Chấp hành viên, thư ký thi hành án thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình và bảo vệ quyền và lợi ích của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền và nghĩa vụ liên quan…trong công tác Thi hành án dân sự. Cùng với đó là sự chuyển biến tích cực của công tác thi hành án, số lượng án tồn đọng giảm đi đáng kể, góp phần giữ gìn và ổn định trật tự, an ninh trên địa bàn, đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, trong hơn 3 năm thực hiện, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Một số quy định trên thực tế thực hiện gặp nhiều khó khăn, vướng mắc hoặc việc thực hiện có thể làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc không có giá trị thi hành trên thực tế. Trong phạm vi bài viết, tôi xin trình bày một số ý kiến đánh giá và góp ý của một số cơ quan Thi hành án dân sự và ý kiến cá nhân về những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các quy định đó từ đó, có những kiến nghị, đề xuất tương ứng. Rất mong những ý kiến đóng góp trên có thể được nghiên cứu và xem xét trong quá trình xây dựng Nghị định về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP theo chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp.

1. Phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

Trên thực tế hiện nay, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có quy định về việc tổ chức thi hành án đối với Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Tuy nhiên, quy định này chưa được hướng dẫn cụ thể hơn tại Nghị định 58/2009/NĐ-CP. Vì vậy, kiến nghị bổ sung vào Điều 1 về phạm vi điều chỉnh của Nghị định nội dung sau: “Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật, đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Toà án được thi hành theo quy định của Luật Thi hành án dân sự và Nghị định này.”.  

2. Về thời hiệu yêu cầu thi hành án (Điều 2)

Khoản 1 Điều 2 quy định: “Đương sự có quyền yêu cầu thi hành án trong thời hiệu yêu cầu thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”. Thời hiệu này là 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 51 Luật Thi hành án dân sự thì: “Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành bản án, quyết định trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 30 của Luật này, kể từ ngày phát hiện người phải thi hành án có điều kiện thi hành”. Vì vậy, để thống nhất, đồng bộ giữa các quy định trên, kiến nghị bổ sung vào Điều 2 Nghị định về nội dung: Trong trường hợp đơn yêu cầu thi hành án được trả lại cho người có đã đơn yêu cầu thi hành án do người phải thi hành án không có điều kiện để thi hành theo quy định tại Điều 51 Luật Thi hành án dân sự thì thời hiệu yêu cầu thi hành án được tính kể từ ngày người được thi hành án phát hiện người phải thi hành án có điều kiện thi hành án.

3. Thỏa thuận thi hành án (Điều 3)

Theo quy định tại Điều 3 thì trong trường hợp người yêu cầu Chấp hành viên chứng kiến việc thỏa thuận thi hành án ngoài trụ sở cơ quan Thi hành án mà phát sinh chi phí thì phải thanh toán chi phí hợp lý cho cơ quan thi hành án dân sự. Tuy nhiên chưa có quy định cụ thể về nội dung này. Vì vậy, kiến nghị bổ sung quy định cụ thể về các khoản chi phí và việc quản lý, sử dụng các loại phí trên, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. 

4. Việc xử lý đơn yêu cầu thi hành án (Điều 4)

+ Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP quy định:  “Đơn yêu cầu thi hành án phải có đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 31 Luật Thi hành án dân sự”. Để xử lý đơn yêu cầu thi hành án, pháp luật về thi hành án dân sự đã quy định: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, nếu có căn cứ từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự phải gửi văn bản thông báo cho đương sự biết về việc từ chối nhận đơn và nêu rõ lý do (khoản 3 Điều 4 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ). Thời hạn ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu là  năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án (khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự).

Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều trường hợp, đơn yêu cầu thi hành án không đảm bảo đúng quy định tại Điều 31 Luật Thi hành án dân sự (chủ yếu là không có thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án). Cơ quan Thi hành án dân sự thông báo cho người được thi hành án bổ sung nội dung đơn yêu cầu thi hành án, nhưng người được thi hành án không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng vẫn không đảm bảo đúng quy định tại Điều 31 Luật Thi hành án dân sự. Trong trường hợp này, cơ quan Thi hành án dân sự không có căn cứ để thụ lý, ra quyết định thi hành án theo quy định tại Khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự vì đơn yêu cầu thi hành án không đảm bảo đúng quy định và cũng không thể thông báo từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Nghị định 58/2009/NĐ-CP vì Điều 34 Luật Thi hành án dân sự quy định về từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án không quy định từ chối nhận đơn trong trường hợp đơn yêu cầu thi hành án không có đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 31. Vì vậy, kiến nghị bổ sung hướng dẫn này vào nội dung của Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 58/2009/NĐ-CP.

Có thể sửa đổi Khoản 2 Điều 4 theo hướng như sau:  “Đơn yêu cầu thi hành án phải có đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 31 Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp đơn yêu cầu thi hành án không có đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 31 hoặc không nêu rõ thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án nhưng không yêu cầu xác minh thì cơ quan Thi hành án dân sự trả lại đơn cho đương sự và hướng dẫn để đương sự bổ sung nội dung đơn yêu cầu thi hành án.”

+ Hiện nay thuật ngữ “thông tin về tài sản” có nhiều cách hiểu khác nhau. Có ý kiến cho rằng thông tin về tài sản nói trên không cần phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Có ý kiến lại cho rằng thông tin này cần phải có xác nhận của cơ quan nắm giữ thông tin mới có giá trị pháp lý để được xem xét là căn cứ để thụ lý và ra quyết định thi hành án. Vì vậy, cần bổ sung quy định về tài sản phải lập theo mẫu hướng dẫn và phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy mới đảm bảo sự chính xác về thông tin tài sản, tạo điều kiện cho cơ quan Thi hành án thực hiện việc xử lý tài sản đúng theo quy định của pháp luật, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng có liên quan.

5. Việc ra Quyết định thi hành án (Điều 5)

Tại Khoản 1 Điều 5 quy định: “Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một Quyết định thi hành án chung cho các khoản thuộc diện chủ động thi hành trong một bản án, quyết định.

Trường hợp trong bản án, quyết định có các khoản về trả lại tiền, tài sản thì đối với mỗi người được thi hành án, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự ra một Quyết định thi hành án. Trường hợp trong một bản án, quyết định có nhiều người phải thi hành án phải thi hành nhiều khoản thì đối với mỗi người phải thi hành án, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự ra một Quyết định thi hành án chung cho các khoản mà người đó phải thi hành”.

Nếu áp dụng đúng theo quy định trên thì một Bản án, quyết định của Tòa án sẽ phải ra nhiều quyết định thi hành án. Như vậy, số việc thi hành án sẽ tăng lên rất nhiều, dẫn đến việc không giải quyết được hết thì lượng việc thi hành tồn sẽ ngày càng nhiều. Ví dụ:

Việc trả tài sản, trả lại tiền mỗi việc ra một Quyết định thi hành án nhưng thực tế khi thi hành việc trả lại tiền và tài sản rất khó khăn, nhiều khi người được nhận không đến nhận hoặc địa chỉ thay đổi. Nhiều trường hợp cơ quan Thi hành án thông báo trả tài sản mặc dù nhận được thông báo của người nhận cũng không đến nhận vì cho rằng tài sản đó không có giá trị, không có hồi âm.

Trường hợp đó, các khoản chủ động của một Bản án nếu ra cùng một Quyết định thi hành án thì khi chưa giải quyết được hết các khoản thì chỉ còn tồn một việc, còn ra nhiều quyết định thi hành án theo Khoản 1 Điều 5 thì khi không giải quyết được sẽ tồn nhiều việc, dẫn đến lượng án tồn đọng tăng ngày càng cao.

Trường hợp nhiều người được bồi thường một khoản tiền cụ thể theo bản án mà chỉ có một số người có đơn yêu cầu thi hành án Nghị định chưa đề cập nên cơ quan Thi hành án không có cơ sở ra Quyết định thi hành án đối với loại việc này.

6. Công tác xác minh điều kiện thi hành án (Điều 6)

+ Điều 6 Nghị định 58/2009/NĐ-CP quy định về việc xác minh điều kiện thi hành án có nội dung: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án ủy quyền có yêu cầu. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đó từ chối cung cấp thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do”. Quy định này đặt ra một số vấn đề pháp lý cần giải đáp.

Một câu hỏi được nhiều cơ quan Thi hành án dân sự đặt ra là liệu việc xác minh của người được thi hành án có đủ là cơ sở pháp lý cho Chấp hành viên để thực hiện các trình tự, thủ tục tiếp theo của quá trình tổ chức thi hành án không khi hiện nay ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế, việc vô tình hay thậm chí là cố tình cung cấp sai thông tin cũng không phải hiếm gặp.

Bên cạnh đó, quy định trên lại không xác định trách nhiệm của các cơ quan đó trong trường hợp không cung cấp thông tin. Đa số các trường hợp yêu cầu hiện nay đều không được các cơ quan, tổ chức, cá nhân nắm thông tin đáp ứng. Điều này gây khó khăn rất lớn cho người được thi hành án trong việc cung cấp thông tin về tài sản của người phải thi hành án. Do đó, cần có các quy định về hệ quả của việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin không cung cấp hoặc cung cấp chậm trễ thông tin khi người được thi hành án có yêu cầu mà không có lý do chính đáng, không có văn bản trả lời người yêu cầu để quyền của người được thi hành án được thi hành trên thực tế.

Hơn nữa, trên thực tế, việc minh bạch tài sản ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập. Thực tiễn cho thấy ngay cả khi Chấp hành viên thực hiện việc xác minh tài sản cũng gặp không ít khó khăn, mất rất nhiều thời gian và công sức. Tư pháp cấp xã, công an cấp xã, cảnh sát khu vực và tổ dân phố là những thành phần tham gia việc xác minh. Nhưng để có đủ các thành phần này thì nhiều trường hợp Chấp hành viên phải đi lại rất nhiều lần mới thực hiện được việc xác minh.

Bên cạnh đó, cần quy định thêm về thời gian, trình tự, thủ tục tiếp nhận và giải quyết đơn yêu cầu cung cấp thông tin về tài sản. Hình thức và nội dung văn bản xác minh phải thể hiện như thế nào, cần có những nội dung gì, cần có những thông tin gì và căn cứ kiểm chứng ở đâu thì vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể. Điều này làm cho cả người được thi hành án khi cung cấp thông tin lẫn Chấp hành viên đều lúng túng khi thực hiện.

+ Khoản 1 Điều 6 quy định người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án. Việc xác minh được xem là không có kết quả khi người được thi hành án hoặc người ủy quyền chứng minh đã trực tiếp hoặc yêu cầu bằng văn bản nhưng đã quá thời hạn 1 tháng kể từ ngày yêu cầu nhưng không nhận được văn bản trả lời mà không có lý do chính đáng. Vậy căn cứ nào để họ chứng minh được ngày nào là ngày mình đã yêu cầu cung cấp thông tin?

+ Khoản 2 Điều 6 quy định: “Người được thi hành án khi yêu cầu Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án phải xuất trình các tài liệu hoặc biên bản làm việc để chứng minh việc người đó hoặc người đại diện theo ủy quyền đã tiến hành xác minh tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ các thông tin về tài sản, đang quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án nhưng không có kết quả”. Vậy “tài liệu” trong trường hợp này phải như thế nào, bao gồm những loại giấy tờ, tài liệu nào để cơ quan Thi hành án dân sự có thể dùng làm căn cứ để giải quyết thi hành được? Nội dung này cần được quy định cụ thể hơn trong Nghị định 58/2009/NĐ-CP.

+ Để người được thi hành án không mất nhiều thời gian và công sức vào việc xác minh, có thể sửa đổi, bổ sung Điều 6 theo hướng người được thi hành án có quyền yêu cầu Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án mà không phải cung cấp các văn bản như quy định tại Điều 6. Theo đó, để có những thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án (trong trường hợp cần có mà người được thi hành án không biết) thì người được thi hành án yêu cầu Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án phải trả một chi phí hợp lý cho việc cung cấp thông tin. Điều này vừa tận dụng được vị thế của cơ quan Thi hành án dân sự để xác minh tài sản nhanh chóng và chính xác, vừa tăng thêm khoản thu cho các cơ quan Thi hành án dân sự. 

+ Trong trường hợp bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng phải được thi hành ngay như đối với bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, bồi thường về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc….thì ai sẽ là người xác minh? Chấp hành viên hay người được thi hành án? Vì bản án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được đưa ra thi hành ngay là vì tính cấp thiết của nghĩa vụ thi hành án đó. Trong khi chờ người được thi hành án xác minh để tổ chức thi hành án sẽ làm giảm đáng kể tính cấp thiết mà luật dự liệu cho người được thi hành án để bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ. Vì vậy, đối với trường hợp này, có thể quy định không cần thiết người được thi hành án phải xác minh trước mà ngay lập tức có thể yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xác minh và tổ chức thi hành án.

7. Nguyên tắc tương ứng trong áp dụng các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế (Điều 8)

+ Khoản 1 Điều 8 quy định: “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết”. Việc áp dụng biện pháp bảo đảm chưa làm mất đi quyền sử dụng, sở hữu của người phải thi hành án đối với tài sản của mình; trong khi đó, việc xử lý tài sản cưỡng chế thi hành án phải trải qua thời gian rất dài, lúc cưỡng chế thì tài sản có thể tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án, nhưng sau nhiều lần giảm giá thì giá trị tài sản sẽ thấp hơn nghĩa vụ của người phải thi hành án rất nhiều. Vì vậy, nếu áp dụng nguyên tắc tương ứng trong khi áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án thì sẽ tạo cơ hội cho người phải thi hành án tẩu tán tài sản, gây khó khăn cho việc tổ chức thi hành án sau này. Vì vậy, kiến nghị sửa Khoản 1 Điều 8 theo hướng không quy định nguyên tắc tương ứng trong việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án mà chỉ quy định, nguyên tắc tương ứng trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án. Cụ thể: “Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết”.

+ Sửa đổi Khoản 4 Điều 8 về áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án: “Đối với trường hợp cưỡng chế giao tài sản cho người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không đồng ý ký vào biên bản cưỡng chế giao tài sản, việc cưỡng chế coi như không thành, Chấp hành viên lập biên bản xử lý hành chính, nếu tái phạm đề nghị xử lý hình sự về tội không chấp hành án”.

+ Theo quy định tại Điều 8 thì tài sản đã giao trên thực tế cho người được thi hành án nhận, nhưng sau đó bị đương sự chiếm lại thì cơ quan Thi hành án không có trách nhiệm giao tài sản lại. Tuy nhiên, quy định này còn chung chung, thực tiễn áp dụng cho thấy các cơ quan có thẩm quyền thường kéo dài vụ việc, giải quyết không đến nơi đến chốn, hoặc đùn đẩy trách nhiệm cho cơ quan Thi hành án dân sự do quy định chưa cụ thể. Vì vậy nên bổ sung quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền và trình tự, thủ tục tiếp nhận và xử lý vụ việc trong trường hợp này.

8. Tạm giữ giấy tờ, tài sản để thi hành án (Điều 9)

Trong quá trình giải quyết việc thi hành án, một số cơ quan Thi hành án dân sự phản ánh: đã xác minh đương sự có tài sản là xe ô tô, xe máy hoặc các phương tiện giao thông khác thuộc sở hữu của người phải thi hành án. Khi phát hiện đương sự đang lưu hành trên thực tế nhưng cơ quan Thi hành án dân sự rất khó khăn trong thực hiện việc tạm giữ tài sản, giấy tờ của phương tiện giao thông đó, sự phối hợp với lực lượng cảnh sát giao thông không thực hiện được. Vì vậy, cần có quy định hướng dẫn theo hướng: Khi Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản là phương tiện giao thông mà đương sự, người quản lý, sử dụng không giao thì Chấp hành viên có quyền đề nghị cơ quan Cảnh sát giao thông thu giữ và thông báo cho cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện việc kê biên, xử lý tài sản. 

9. Việc hướng dẫn khởi kiện (Điều 10)

Điều 10 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP quy định: Đối với tài sản được đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng sau thời điểm này thì Chấp hành viên có quyền xử lý để thi hành án theo quy định của pháp luật, nếu có tranh chấp thì hướng dẫn các bên khởi kiện để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Trước đây, một số cơ quan Thi hành án dân sự có ý kiến cho rằng, trong trường hợp có tranh chấp, Chấp hành viên hướng dẫn các bên khởi kiện để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự; nhưng nếu các bên không khởi kiện thì tài sản có được xử lý để thi hành án hay không?. Nếu các bên khởi kiện thì Chấp hành viên có phải đợi đến khi có phán quyết của Toà án mới được xử lý tài sản hay không?. Đây là một vướng mắc lớn trong thời gian dài khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 không quy định việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản để thi hành án là một việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tuy nhiên, quy định này đã được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ 01/01/2012. Theo khoản 7 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi thì một trong những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là: “Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự”. Vì vậy, nếu đương sự không trực tiếp yêu cầu Tòa án thì cơ quan thi hành án dân sự có quyền yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản thi hành án.

10. Việc phong tỏa tiền trong tài khoản (Điều 11)

Thực tiễn áp dụng quy định này, các cơ quan Thi hành án dân sự phản ánh đã gặp rất nhiều khó khăn vì quy định này chưa được đồng bộ với các quy định của pháp luật chuyên ngành khác nên việc phối hợp thực hiện giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan với các cơ quan Thi hành án dân sự gặp rất nhiều khó khăn.

Vì vậy, kiến nghị sửa Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ theo hướng: Quá trình xác minh điều kiện thi hành án, nếu phát hiện người phải thi hành án có tài khoản và có tiền trong tài khoản thì Chấp hành viên tiến hành lập biên bản yêu cầu người đại diện theo pháp luật của Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác phong toả tài khoản của người phải thi hành án và yêu cầu người đại diện theo pháp luật của Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác ký vào biên bản. Nếu người đại diện theo pháp luật của Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác không ký biên bản yêu cầu phong toả tài khoản của người phải thi hành án thì phải có chữ ký của người chứng kiến; người đại diện theo pháp luật của Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc không ký biên bản, gây thiệt hại phải bồi thường. Kể từ thời điểm lập biên bản về việc phong toả tài khoản, Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác đang quản lý tài khoản của người phải thi hành án phải nghiêm chỉnh chấp hành yêu cầu phong toả tài khoản. Trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm yêu cầu phong toả, Chấp hành viên phải ra quyết định phong toả và giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật của Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng đang quản lý tài khoản của người phải thi hành án”

11. Thu tiền, tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ (Điều 14)

Sửa đổi, bổ sung theo hướng nêu rõ áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản của người thứ 3; chi phí cưỡng chế thi hành án do người bị cưỡng chế chịu

12. Xác định giá đối với tài sản kê biên (Điều 15)

+ Khoản 1 Điều 15 quy định: “Chấp hành viên xác định giá đối với tài sản kê biên có giá trị nhỏ là tài sản mà tại thời điểm xác định giá, sản phẩm cùng loại chưa qua sử dụng có giá bán trên thị trường không quá 2.000.000 đồng

Mức giá 2.000.000 đồng là quá nhỏ so với giá trị của các tài sản trên thực tế. Việc ký hợp đồng dịch vụ quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự gặp nhiều khó khăn, chi phí lớn và không cần thiết. Vì vậy, cần nâng mức này lên từ 2.000.000 đến 10.000.000 đồng.

+ Trên thực tế một số cơ quan Thi hành án dân sự phản ánh, có nhiều cơ quan chuyên môn không biết hoặc không tạo điều kiện cho cơ quan Thi hành án dân sự để định giá đối với tài sản kê biên và chưa có cơ chế nào bắt buộc các cơ quan chuyên môn phải có ý kiến. Vì vậy, đề nghị cần có một cơ chế hợp lý để ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn trong việc tạo điều kiện và phối hợp với cơ quan Thi hành án dân sự trong việc định giá đối với tài sản kê biên.

+ Khoản 2 Điều 15 quy định: “Trường hợp do không ký được hợp đồng dịch vụ quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự, Chấp hành viên tham khảo ý kiến của cơ quan Tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan trước khi xác định giá của tài sản kê biên”. Khi đã tổ chức cưỡng chế thì việc khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Chấp hành viên rất dễ xảy ra, đặc biệt trong việc cưỡng chế tài sản là nhà đất, có giá trị lớn. Do vậy, để có cơ sở chặt chẽ nên quy định trong trường hợp này việc tham khảo ý kiến chuyên môn phải được lập thành biên bản Đề nghị sửa đổi Khoản 2 Điều 15: “Trường hợp do không ký được hợp đồng dịch vụ quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự, Chấp hành viên có văn bản mô tả, nêu rõ đặc tính kỹ thuật, chất lượng, tình trạng của tài sản định giá gửi cơ quan Tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan trước để tham khảo giá. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày cơ quan Tài chính, cơ quan chuyên môn có liên quan nhận được văn bản đề nghị của Chấp hành viên có trách nhiệm trả lời để Chấp hành viên làm căn cứ cho việc xác định giá tài sản để thi hành án.

13. Kê biên đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ (Điều 16)

Điều 16 chưa quy định cụ thể về trình tự thủ tục, phương pháp định giá quyền sở hữu trí tuệ cũng như chưa quy định về trình tự, thủ tục bán đấu giá cụ thể đối với loại tài sản đặc biệt này. Bên cạnh đó, việc kê biên tài sản là quyền sở hữu trí tuệ cũng cần phải có hướng dẫn cụ thể vì quyền sở hữu trí tuệ có nhiều loại khác nhau mà mỗi loại lại có những quyền nhân thân và quyền tài sản tương ứng.

14. Xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước (Điều 18)

Khoản 2 Điều 18 quy định: “Cơ quan Thi hành án dân sự thông báo và ấn định cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận vật chứng, tài sản thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo để tiếp nhận”. Thời gian 30 ngày là quá dài, dẫn đến tiến độ giải quyết vụ việc chậm, cơ quan Thi hành án dân sự phải bỏ nhiều chi phí để trông giữ, bảo quản tài sản. Vì vậy, kiến nghị giảm thời gian này xuống 15 ngày cho phù hợp.

15. Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 23)

Điều 23 hướng dẫn về thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm. Tuy nhiên, cần bổ sung thêm một số hướng dẫn về nội dung này. Cụ thể: theo quy định tại Khoản 3 Điều 135 Luật Thi hành án dân sự 2008 thì: “Đối với phần bản án, quyết định của Tòa án hủy, sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới mà đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc hoàn trả tài sản, phục hồi lại quyền tài sản” và Điều 136 quy định: “Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án mà phần tài sản trong bản án, quyết định bị hủy đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 135 của Luật này”. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc nào các bên đương sự cũng có thể ngồi lại thỏa thuận với nhau. Vì vậy, cần có hướng dẫn cụ thể trong trường hợp các đương sự không thỏa thuận giải quyết được mà yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự giải quyết thì cơ quan Thi hành án dân sự có giải quyết không và giải quyết như thế nào?

16. Điều kiện xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án (Điều 26)

+ Khoản 1 Điều 26 Nghị định quy định “Người phải thi hành nghĩa vụ đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đã thi hành được ít nhất bằng 1/20 khoản phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch thì được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 Luật Thi hành án dân sự”. Như vậy, đối với các trường hợp mà người phải thi hành các khoản thu nộp ngân sách nhà nước trên 5.000.000 đồng nếu hoàn toàn không có điều kiện để nộp thì những hồ sơ này sẽ treo mãi tại cơ quan Thi hành án mà không thể miễn, giảm được. Có những vụ việc đã qua 10 năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án nhưng vẫn không thể xét đề nghị miễn giảm thi hành án theo quy đinh, dẫn đến việc án tồn đọng từ năm này qua năm khác. Vì vậy, một số cơ quan Thi hành án dân sự kiến nghị cần bãi bỏ quy định này hoặc sửa đổi, bổ sung theo hướng phù hợp để ý nghĩa xã hội của quy định trên được đảm bảo và tạo điều kiện thuận lợi trong việc giảm số lượng án tồn đọng, án không thể thi hành. Đồng thời, bổ sung trường hợp trong một thời hạn nhất định (có thể từ 5 năm đến 7 năm) nếu không xác định được địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án thì có thể được xét miễn, giảm nghĩa vụ còn lại.

Bên cạnh đó, quy định thời hạn là 5 năm và 10 năm như trên là quá dài đối với một vụ việc để xem xét miễn, giảm thi hành án.

+ Theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 về mức xét giảm khoản nghĩa vụ thu nộp ngân sách nhà nước, cần quy định rõ “số tiền còn lại phải thi hành án” là số tiền còn lại phải thi hành án tại thời điểm đề nghị xét giảm lần đầu. Vì hiện nay, trong quá trình xét giảm thi hành án khoản thu nộp ngân sách nhà nước, nhiều cơ quan Thi hành án dân sự có những ý kiến khác nhau trong việc xác định thời điểm của số tiền còn lại phải thi hành án để xét giảm 1/3 hoặc 1/5. Nếu xác định số tiền còn lại phải thi hành án tại thời điểm đề nghị xét giảm lần đầu thì sau 3 hoặc 5 lần xét giảm là có thể giải quyết xong việc thi hành án. Nhưng nếu xác định số tiền còn lại phải thi hành án tại từng thời điểm đề nghị xét giảm thì  số lần xét giảm càng kéo dài, không đáp ứng được yêu cầu của việc xét miễn giảm thi hành án là nhằm giải quyết án tồn đọng.

Vì vậy, kiến nghị sửa đổi quy định trên theo hướng:

“Mức xét giảm khoản nghĩa vụ thu nộp ngân sách nhà nước được thực hiện như sau:

a) Đối với khoản nghĩa vụ phải thi hành án còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá 1/3 số tiền còn lại phải thi hành án tại thời điểm đề nghị xét giảm lần đầu;

b) Đối với khoản nghĩa vụ phải thi hành án còn lại có giá trị từ trên 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá 1/5 số tiền còn lại phải thi hành án tại thời điểm đề nghị xét giảm lần đầu”.

17. Về chi phí cưỡng chế thi hành án (Điều 31)

Theo quy định tại Điều 31 thì mức chi bồi dưỡng được áp dụng đối với Chấp hành viên, công chức khác làm công tác thi hành án, Kiểm sát viên, cảnh sát, dân quân tự vệ, đại diện chính quyền địa phương, đại diện tổ chức xã hội trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án dân sự và đại diện tổ dân phố, trưởng thôn, già làng, trưởng bản và các lực lượng khác được huy động tham gia cưỡng chế thi hành án dân sự trong trường hợp cần thiết. Tuy nhiên, mức chi này chưa được quy định cụ thể nên việc thực hiện không đồng bộ và chưa có căn cứ. Vì vậy, kiến nghị bổ sung quy định về mức chi bồi dưỡng cụ thể cho người chủ trì và những người khác trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án như sau:

*. Chi cho các thành viên tham gia họp bàn cưỡng chế thi hành án, các thành viên họp định giá và định giá lại giá tài sản:

- Chủ trì: 100.000 đồng/người/ngày;

- Thành viên: 70.000 đồng/người/ngày.

*. Chi bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án:

- Chấp hành viên, công chức khác làm công tác thi hành án, Kiểm sát viên, cảnh sát, dân quân tự vệ, đại diện chính quyền địa phương trực tiếp tham gia cưỡng chế thi hành án:

+ Người chủ trì: mức 100.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế;

+ Đối tượng khác: mức 70.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế.

 -  Đại diện tổ dân phố, trưởng thôn, già làng, trưởng bản và các đối tượng khác được huy động tham gia cưỡng chế thi hành án dân sự trong trường hợp cần thiết: mức 70.000 đồng/người/ngày tham gia cưỡng chế.

*. Chi bồi dưỡng cho những người trực tiếp thực hiện thông báo cưỡng chế thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án; những người trực tiếp thực hiện quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ:

- Chấp hành viên, công chức khác làm công tác thi hành án, Kiểm sát viên, cảnh sát: Mức 50.000 đồng/người/ngày.

- Dân quân tự vệ, đại diện chính quyền địa phương và các đối tượng khác: Mức 70.000 đồng/người/ngày.

*.  Chi thuê phiên dịch

- Phiên dịch tiếng dân tộc: Tối đa 200% mức lương tối thiểu chung, tính theo lương ngày do Nhà nước quy định cho khu vực quản lý hành chính.

- Phiên dịch tiếng nước ngoài: Thực hiện theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính về mức chi dịch thuật trong chế độ chi tiêu đón tiếp khách nước ngoài và chi tiêu tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam.

*. Các chi phí: Thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ cưỡng chế; chi phí phòng cháy, nổ; thuê địa điểm, phương tiện để tổ chức bán đấu giá; phí thẩm định giá; phí bán đấu giá; thuê trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản và các khoản chi khác có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án được thực hiện căn cứ theo hợp đồng, thanh lý hợp đồng, hoá đơn, chứng từ chi tiêu thực tế, hợp pháp, hợp lệ theo quy định và được Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự phê duyệt”

18. Về phí thi hành án (Điều 33, 34)

+ Khoản 1 Điều 33 Nghị định quy định: Mức phí thi hành án là 3% trên số tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận nhưng tối đa không vượt quá 200 triệu đồng/01 đơn yêu cầu thi hành án.

Trong thực tiễn thi hành án, có những vụ việc cơ quan Thi hành án dân sự phải tổ chức thi hành án giá trị rất lớn lên đến hàng trăm tỷ đồng; việc tổ chức thi hành án phải mất nhiều thời gian, nhiều giai đoạn. Vì vậy, quy định cứng mức thu phí tối đa không vượt quá 200 triệu đồng/01 đơn yêu cầu thi hành án là không phù hợp, không mang tính răn đe, không làm giảm lượng án ảo. Vì vậy, cần tăng mức thu phí thi hành án. Có thể tính phí thi hành án theo mức như phần án phí mà Tòa án đang áp dụng hoặc sửa đổi, bổ sung theo hướng: “Mức phí thi hành án là 3% trên số tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận” hoặc quy định: “Mức phí thi hành án là 3% trên số tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận nhưng tối đa không vượt quá 500.000.000 đồng/01 đơn yêu cầu thi hành án”.

+ Việc trả lại tiền, tài sản, tang vật tạm giữ thi hành án là trường hợp người được thi hành án không có đơn mà vẫn phải chịu phí theo quy định tại Điều 60 Luật Thi hành án dân sự; Điều 1 Thông tư liên tịch số 144/2010/TTLT-BTC-BTP là phải chịu phí thi hành án. Hiện nay, đối với trường hợp này thì có địa phương thu, có địa phương lại không thu. Vì vậy, cần bổ sung quy định tại Điều 34 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP: đây là các khoản thuộc trường hợp không phải thu phí thi hành án vì thuộc diện chủ động của cơ quan Thi hành án.

19. Hướng dẫn bổ sung đối với một số điều của Luật Thi hành án dân sự:

19.1 Hướng dẫn bổ sung đối với Điều 55, 56, 57 Luật Thi hành án dân sự về thực hiện ủy thác thi hành án theo hướng:

*. Trường hợp người phải thi hành án có nhiều tài sản ở nhiều nơi thì cơ quan Thi hành án uỷ thác đến:

- Nơi có tài sản đủ để thi hành án, trừ trường hợp quy định tại Điểm b khoản 1 của Điều này;

- Nơi có nhiều tài sản hoặc tài sản có giá trị lớn nhất.

*. Trường hợp khi chưa xử lý xong tài sản tại địa phương nhưng xét thấy việc uỷ thác không ảnh hưởng đến xử lý tài sản ở địa phương thì cơ quan Thi hành án uỷ thác khoản phải thi hành án đến nơi có điều kiện thi hành khoản đó.

*. Quyết định uỷ thác phải ghi rõ nội dung uỷ thác, khoản đã thi hành xong, khoản cần tiếp tục thi hành và các thông tin cần thiết cho việc thực hiện uỷ thác.

Quyết định uỷ thác phải kèm theo bản án, quyết định, bản sao biên bản kê biên, tạm giữ tài sản và các tài liệu khác có liên quan. Trong trường hợp phải uỷ thác cho nhiều nơi thì cơ quan Thi hành án sao chụp bản án, quyết định thành nhiều bản, có đóng dấu của cơ quan Thi hành án nơi uỷ thác để gửi cho cơ quan Thi hành án dân sự nơi nhận uỷ thác.

*. Cơ quan Thi hành án dân sự nhận uỷ thác, nếu xét thấy người phải thi hành án không có tài sản hoặc không cư trú, làm việc hay có trụ sở ở địa phương mình thì giải quyết như sau:

- Trong trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự đã uỷ thác chủ động ra quyết định thi hành án thì cơ quan nhận uỷ thác phải uỷ thác tiếp cho cơ quan Thi hành án nơi có điều kiện thi hành;

- Trong trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của người được thi hành án thì ra quyết định trả lại đơn yêu cầu và giải thích cho đương sự về quyền gửi đơn yêu cầu (kèm theo quyết định trả đơn và tài liệu liên quan) đến cơ quan Thi hành án dân sự nơi có điều kiện thi hành. Cơ quan Thi hành án dân sự nơi có điều kiện thi hành án phải ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của đương sự.

19.2. Hướng dẫn bổ sung đối với Điều 59 Luật Thi hành án dân sự về việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án theo hướng:

*. Chấp hành viên tổ chức định giá tài sản để thực hiện việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án theo quy định tại Điều 59 Luật Thi hành án dân sự trong trường hợp:

- Tại thời điểm thi hành án, giá tài sản thay đổi tăng hoặc giảm từ 20% trở lên;

- Một trong các bên đương sự có yêu cầu định giá tài sản đó.

*. Trong hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu định giá tài sản của đương sự, Chấp hành viên phải tiến hành định giá theo quy định tại Điều 98 của Luật  Thi hành án dân sự.

*. Chấp hành viên thi hành án tổ chức việc thi hành án bằng tiền tương ứng với tỷ lệ giá trị tài sản  tại thời điểm có kết quả định giá tài sản quy định tại khoản 2 của Điều này cho người được thanh toán tiền thi hành án.

19.3. Hướng dẫn bổ sung về thứ tự thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại Khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự theo hướng:

*. Số tiền thu được từ việc bán tài sản đã được Toà án tuyên kê biên bảo đảm thi hành cho một nghĩa vụ cụ thể, được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ đó.

*. Số tiền thi hành án đã thu được thanh toán cho tất cả những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế thi hành án đó, không phụ thuộc vào việc đơn yêu cầu thi hành án có phải là căn cứ để cưỡng chế thi hành án hay không.

19.4. Có hướng dẫn bổ sung về quy định nhằm bảo đảm quyền lợi cho người mua được tài sản đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án theo hướng:

*. Người mua được tài sản đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án được bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng tài sản đã mua đấu giá, nhận để thi hành án.

*. Trường hợp người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá nhưng bản án, quyết định bị kháng nghị, sửa, huỷ thì cơ quan Thi hành án dân sự tiếp tục hoàn thiện thủ tục giao tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp các đương sự có thoả thuận khác hoặc trường hợpn thủ tục bán đấu giá vi phạm quy định của pháp luật do có lỗi của người mua được tài sản bán đấu giá.

*. Việc cưỡng chế giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá hoặc cho người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện theo quy định về cưỡng chế thi hành án buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản.

19.5. Có hướng dẫn bổ sung quy định về lãi chậm thi hành án theo hướng:

*. Trường hợp bản án, quyết định của Toà án tuyên lãi chậm thi hành án thì cơ quan Thi hành án dân sự căn cứ bản án, quyết định để thi hành.

Trường hợp bản án, quyết định của Toà án không tuyên lãi chậm thi hành án thì thi hành theo bản án, quyết định đó.

*. Mức lãi chậm thi hành án

- Đối với bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 thì lãi suất chậm thi hành án áp dụng là mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với từng thời điểm;

- Đối với bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực trước ngày 01 tháng 7 năm 2006 mà chưa thi hành xong thì lãi suất chậm thi hành án áp dụng là mức lãi suất mà bản án, quyết định đã tuyên tương ứng với từng thời điểm;

- Trường hợp người phải thi hành án thi hành nhiều lần thì thanh toán tiền thi hành án, cơ quan Thi hành án thanh toán khoản lãi chậm thi hành án trước khoản tiền gốc. Lãi chậm thi hành án đối với khoản tiền gốc còn lại tiếp tục thi hành theo quy định.

Ví dụ: Ông A phải thi hành án cho bà B số tiền gốc 200 triệu đồng kể từ ngày 01/7/2010 và lãi chậm thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian thi hành án. Ngày 21/9/2010, ông A nộp 100 triệu đồng để thi hành án. Ngày 01/10/2010, cơ quan Thi hành án dân sự chi trả tiền cho bà B. Lãi suất chậm thi hành án từ 01/7/2010 đến 01/10/2010 của số tiền 200 triệu đồng là 10 triệu đồng.

Trong trường hợp này, lãi chậm thi hành án được tính như sau:

- Số phải thi hành án bao gồm tiền gốc và lãi tính đến ngày 01/10/2010 là 210 triệu đồng. Số tiền 100 triệu đồng được thanh toán 10 triệu đồng tiền lãi, 90 triệu đồng tiền gốc, do đó số tiền còn phải thi hành kể từ ngày 02/10/2010 là 110 triệu đồng.

- Lãi chậm thi hành án của số tiền gốc 110 triệu đồng.còn phải thi hành án tính từ ngày 02/10/2010.

Quy định cụ thể về mức lãi suất chậm thi hành án, thời điểm tính chậm thi hành án, phương thức thanh toán lãi suất chậm thi hành án./.

19.6. Bổ sung hướng dẫn Điều 104 Luật Thi hành án dân sự về xử lý tài sản bán đấu giá không thành

Điều 104 Luật Thi hành án dân sự quy định:

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày bán đấu giá không thành mà đương sự không yêu cầu định giá lại thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Mỗi lần giảm giá không quá mười phần trăm giá đã định.

Trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án”.

Theo Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ quy định về bán đấu giá tài sản, thì việc bán đấu giá không thành thuộc các trường hợp sau:

*. Tại cuộc bán đấu giá tài sản, người tham gia đấu giá trả giá cao nhất được công bố thấp hơn so với giá khởi điểm (điểm c khoản 1 Điều 34).

*. Tại cuộc bán đấu giá tài sản, người đã trả giá cao nhất mà rút lại giá đã trả trước khi Đấu giá viên điều hành cuộc bán đấu giá công bố người mua được tài sản thì cuộc bán đấu giá vẫn tiếp tục và bắt đầu từ giá của người trả giá liền kề trước đó. Trong trường không có người trả giá tiếp thì cuộc bán đấu giá coi như không thành (khoản 1 Điều 38).

*. Tại cuộc bán đấu giá tài sản, sau khi Đấu giá viên điều hành cuộc bán đấu giá tài sản đã công bố người mua được tài sản bán đấu giá mà người này từ chối mua thì tài sản được bán cho người trả giá liền kề nếu giá liền kề đó cộng với khoản tiền đặt trước ít nhất bằng giá đã trả của người từ chối mua. Trong trường hợp giá liền kề cộng với khoản tiền đặt trước nhỏ hơn giá đã trả của người từ chối mua thì cuộc bán đấu giá coi như không thành (khoản 1 Điều 39). Trong trường hợp người trả giá liền kề không đồng ý mua thì cuộc bán đấu giá coi như không thành (khoản 2 Điều 39).

Như vậy, đối với trường hợp sau khi thông báo 3 lần theo quy định của pháp luật mà không có người đăng ký mua tài sản thì chưa có cơ sở pháp lý, vì vậy cần được quy định trường hợp trên vào trong nội dung sửa đổi Nghị định 58/2009/NĐ-CP sắp tới theo hướng: Trong trường hợp thông báo bán đấu giá 03 lần nhưng không có người đăng ký mua tài sản thì Chấp hành viên thanh lý hợp đồng với Tổ chức bán đấu giá, sau đó thông báo cho các đương sự về quyền thoả thuận về việc giảm giá, trường hợp không thoả thuận được thì Chấp hành viên quyết định việc giảm giá để tiếp tục bán đấu giá, nếu có người yêu cầu thẩm định giá lại thì tổ chức thẩm định lại giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá.

Về chi phí: chi phí thực tế hợp lý do không có người đăng ký mua tài sản thực hiện theo quy định về chi phí cưỡng chế thi hành án. Trước mắt, cơ quan Thi hành án tạm ứng từ ngân sách Nhà nước mà cơ quan Thi hành án dân sự phải chi trả cho Tổ chức bán đấu giá.

Hoàng Thu Thủy