Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (sửa đổi) được Quốc hội khóa XV, kỳ họp lần thứ 10 thông qua ngày 05/12/2025, gồm 05 Chương, 116 điều, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Luật thi hành án dân sự (THADS) ban hành với nhiều nội dung mới, quan trọng, đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy, cải cách tư pháp, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường xã hội hóa, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn cuộc sống, và làm rõ trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, địa phương trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đảm bảo nâng cao hiệu quả công tác THADS.
Về bộ máy hệ thống THADS tinh gọn theo yêu cầu mới
Thứ nhất, về tổ chức bộ máy cơ quan THADS, Luật đã thể chế hóa Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới; Kết luận số 162-KL/TW ngày 06/6/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy hệ thống THADS bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Theo đó, hệ thống THADS được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương, bao gồm: Cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp và 34 cơ quan THADS tỉnh, thành phố được tổ chức theo mô hình một cấp, có 355 Phòng THADS khu vực trực thuộc Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố.
Thứ hai, về vị trí, vai trò của cơ quan quản lý THADS trong Luật: Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, có tư cách pháp nhân, có con dấu có hình Quốc huy, trụ sở và tài khoản riêng; có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước, tổ chức thi hành pháp luật về thi hành án dân sự, tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên theo quy định của pháp luật. Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, trụ sở và tài khoản riêng; có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan thi hành án dân sự trong Luật: Cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan có chức năng tổ chức thi hành bản án, quyết định theo quy định của Luật THADS và pháp luật có liên quan; có Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, trụ sở và tài khoản riêng; người đứng đầu cơ quan thi hành án dân sự là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THADS cơ bản giữ nguyên Luật hiện hành, đồng thời, có bổ sung nhiều nhiệm vụ liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS nhằm thực hiện đồng bộ, hiệu quả, kịp thời chủ trương của Đảng. Về cơ cấu tổ chức của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố gồm các đơn vị sau đây: Phòng Nghiệp vụ và tổ chức thi hành án dân sự; Phòng Thi hành án dân sự khu vực; các đơn vị cấp phòng khác.
Thứ tư, quy định chức danh mới Chấp hành viên trưởng của Phòng Thi hành án dân sự khu vực: Để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động THADS của các Phòng THADS khu vực, Luật đã bổ sung chức danh Chấp hành viên trưởng và quy định Trưởng phòng Phòng THADS khu vực đồng thời là Chấp hành viên trưởng. Đây là chức danh tư pháp được giao cho người đứng đầu Phòng THADS khu vực, giữ ngạch Chấp hành viên trung cấp trở lên, có các nhiệm vụ quyền hạn thực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn theo ủy quyền, phân công của Thủ trưởng của cơ quan THADS; phân công nhiệm vụ tổ chức thi hành án cho các Chấp hành viên thuộc Phòng THADS khu vực; hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn, nghiệp vụ tổ chức thi hành án đối với Chấp hành viên tại Phòng THADS khu vực. Chức danh Chấp hành viên trưởng, Trưởng Phòng THADS khu vực là “cánh tay nối dài” của Thủ trưởng cơ quan THADS trong điều kiện số lượng vụ việc lớn, địa bàn rộng như hiện nay sẽ đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời trong giải quyết việc THADS cho người dân và doanh nghiệp. Mặt khác, chức danh này còn đảm bảo sự nhanh chóng, kịp thời, tương xứng trong phối hợp với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết các vấn đề phát sinh trong THADS trên địa bàn theo quy định của pháp luật về THADS, về tố tụng và các quy định khác.
Thứ năm, quy định về việc phân công, ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan THADS cho Phó Thủ trưởng cơ quan THADS và người đứng đầu các đơn vị chuyên môn: Giữ nguyên quy định về việc Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công hoặc ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao. Bổ sung quy định về việc Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể phân công, ủy quyền cho người đứng đầu các đơn vị trực thuộc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp không được ủy quyền theo quy định của pháp luật. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của việc phân công, ủy quyền và kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân công, ủy quyền, trừ trường hợp người được phân công, ủy quyền thực hiện không đúng nội dung, phạm vi, thời hạn đã được phân công, ủy quyền.
Đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí thi hành án
Luật THADS (sửa đổi) tiếp tục kế thừa quy định về trình tự, thủ tục của Luật THADS hiện hành, bao gồm các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế. Tuy nhiên, từng thời hạn, thủ tục trong quy trình tổ chức thi hành án đã được rà soát để “đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí” theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Thứ nhất, về ra quyết định thi hành án
Bổ sung trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án đối với “Khoản tiền bồi thường cho tổ chức, cá nhân mà cơ quan thi hành án dân sự đã thu và được tuyên trong bản án, quyết định”; chủ động ra quyết định thi hành án đối với bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật. Đây là quy định “mở” để dự phòng các trường hợp pháp luật quy định, ví dụ trường hợp theo Nghị quyết số 205/2025/QH15 của Quốc hội về việc thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công. Luật còn bổ sung quy định về “trường hợp pháp luật có quy định điều kiện để bản án, quyết định được thi hành thì thời hạn ra quyết định thi hành án là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin về điều kiện đó”. Đây là quy định nhằm giải quyết vướng mắc trong việc thi hành phán quyết trọng tài mà cần xác định phán quyết đó có đang bị yêu cầu huỷ phán quyết hay không.
Thứ hai, về xác minh điều kiện thi hành án
Luật quy định giảm thời hạn xác minh lần đầu từ 10 ngày xuống 07 ngày làm việc. Bổ sung quy định việc xác minh điều kiện thi hành án được thực hiện trên môi trường số, trực tiếp hoặc bằng văn bản theo quy định của pháp luật. Trường hợp xác minh trên môi trường số, Chấp hành viên có quyền khai thác thông tin từ các cơ sở dữ liệu về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án khác của người phải thi hành án. Luật bổ một số quy định, cơ quan thi hành án dân sự có thể xác minh ngoài địa bàn tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở hoặc ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự khác nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minh điều kiện thi hành án; quy định cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật thì không phải chịu chi phí. Bổ sung quy định Chấp hành viên có quyền tự mình thực hiện hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện việc mở khóa, mở gói; đo đạc tài sản hoặc các biện pháp cần thiết khác để thực hiện việc xác minh. Trường hợp đương sự hoặc những người khác có hành vi cản trở, chống đối việc xác minh, xem xét, kiểm tra hiện trạng tài sản thì Chấp hành viên đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức có liên quan yêu cầu người đó chấm dứt hành vi cản trở, chống đối hoặc tạm thời rời khỏi nơi có tài sản để thực hiện việc xác minh.
Thứ ba, về thông báo thi hành án
Quy định rõ các loại văn bản cần thông báo bao gồm: quyết định về thi hành án, thông báo, giấy triệu tập về thi hành án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân phải được thông báo cho họ để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó. Hình thức thông báo bao gồm: Thông báo trên môi trường số hoặc qua văn phòng thi hành án dân sự hoặc doanh nghiệp bưu chính hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp cho người được thông báo; niêm yết công khai; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bổ sung quy định trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở nước ngoài mà không xác định được địa chỉ, nơi cư trú của họ ở nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện trên môi trường số; quy định về các hình thức thông báo trong trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ở Việt Nam mà xác định được địa chỉ của họ ở nước ngoài.
Thứ tư, quy định về việc gửi lại yêu cầu thi hành án
Một trong những điểm mới nổi bật của Luật THADS (sửa đổi) là quy định về việc gửi lại yêu cầu thi hành án. Theo đó, tại khoản 4 Điều 38 đã bổ sung quy định hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh định kỳ (xác minh lại) mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại theo quy định tại Điều 34 khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành hoặc có quyền yêu cầu Văn phòng Thi hành án dân sự thi hành án theo quy định tại Điều 31 của Luật này.
Thứ năm, bổ sung quy định xử lý khoản tiền đã tạm thu trong nhiều năm nhưng chưa có phương án giải quyết
Đối với khoản tiền đã tạm thu trước khi có bản án, quyết định của Tòa án mà sau 05 năm kể từ ngày tạm thu không nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thủ tục sung công. Sau khi sung công, trường hợp nhận được bản án, quyết định của Tòa án thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thoái thu theo quy định của pháp luật để thi hành theo nội dung bản án, quyết định. Đối với khoản tiền đã tạm thu nhưng đến ngày 01 tháng 7 năm 2026 mà cơ quan thi hành án dân sự vẫn chưa nhận được bản án, quyết định thì được xử lý theo quy định tại khoản này.
Thứ sáu, về xác định tài sản và xử lý tranh chấp tài sản của người phải thi hành án
Quy định rút ngắn thời hạn đương sự yêu cầu xác định, phân chia tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án từ 45 ngày xuống còn 30 ngày. Đồng thời, bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong trường hợp đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì phải giải quyết theo thủ tục rút gọn đối với yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành. Bổ sung quy định trường hợp Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định, phân chia, giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng theo quy định mà Chấp hành viên không thể thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập (còn nữa)./.
Văn phòng THADS tỉnh