Luật Thi hành án dân sự có nhiều tác động tích cực nhưng còn hạn chế, vướng mắc

10/01/2012
Ngày 14/11/2008, Quốc hội nước ta thông qua Luật THADS và Nghị quyết thi hành Luật này, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2009. Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân và chỉ đạo các cơ quan Tư pháp, THADS địa phương triển khai nhiều biện pháp thực hiện Luật THADS. Các cơ quan THADS địa phương và trong quân đội đã tiến hành sơ kết hai năm thi hành Luật THADS gửi báo cáo về Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp đã tổ chức 03 Đoàn khảo sát tại 03 miền gồm 09 địa phương là thành phố Hồ Chí Minh, Long An, An Giang, Đà Nẵng, Bình Định, Quảng Ngãi, Hà Nội, Hải Phòng và Hải Dương.


Ngày 20/12/2011, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị sơ kết hai năm thi hành Luật THADS, có thể nói sau hai năm thi hành, Luật THADS đã có nhiều tác động tích cực và hiệu quả đối với đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:

Một là, đã tạo được hành lang pháp lý cơ bản bảo đảm cho công tác THADS hiệu quả hơn:

Với hình thức văn bản pháp luật chuyên ngành là Luật THADS, cùng hệ thống các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này đã được ban hành tương đối đầy đủ, từ Nghị định, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư, Thông tư liên tịch và văn bản quy phạm trong nội bộ Ngành, cơ quan THADS. Các quy phạm pháp luật trong các văn bản pháp luật chuyên ngành về THADS nêu trên điều chỉnh cơ bản đầy đủ các lĩnh vực của công tác THADS, từ tổ chức bộ máy, trình tự, thủ tục thi hành án, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức hữu quan trong công tác THADS, kiểm sát, giám sát hoạt động THADS v.v. và hầu hết phù hợp, thống nhất với văn bản pháp luật chung, chuyên ngành khác, như: hiến pháp; các luật về tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng trọng tài; pháp luật về dân sự, đất đai, nhà ở, thi hành án hình sự, hành chính.

Hai là, hệ thống tổ chức THADS được thành lập phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và tính chất đặc thù của hoạt động THADS:

Căn cứ quy định của Luật THADS và Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 của Chính phủ, hệ thống tổ chức THADS đã được tổ chức và quản lý tập trung, thống nhất theo ngành THADS, với mô hình: Tổng cục THADS trực thuộc Bộ Tư pháp, Cục THADS cấp tỉnh trực thuộc Tổng cục THADS, Chi cục THADS cấp huyện trực thuộc Cục THADS cấp tỉnh. Việc tổ chức hệ thống THADS theo ngành dọc đã tăng cường vị thế cơ quan THADS, tương xứng chức năng, nhiệm vụ được giao, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, chỉ đạo chuyên ngành, thống nhất từ trung ương đến cấp huyện, nhưng không xa rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương với công tác THADS. Đã đảm bảo cơ chế vận hành có hiệu quả, thông suốt, gắn chặt với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, UBND thành phố, các quận ủy, huyện ủy và UBND các quận, huyện và sự phối hợp công tác có hiệu quả của các Sở, ban, ngành trên địa bàn, nhất là Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, cơ quan Công an và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các quận, huyện.

Cơ cấu, bộ máy của hệ thống tổ chức THADS từng bước được kiện toàn với việc thành lập các Vụ và tương đương thuộc Tổng cục THADS, các Phòng thuộc Cục THADS giúp cho Tổng cục trưởng, Cục trưởng quản lý, điều hành công việc chặt chẽ, chất lượng hơn.

Chức danh Chấp hành viên được bổ nhiệm không thời hạn trên cơ sở kết quả thi tuyển và với ngạch Chấp hành viên sơ cấp, trung cấp, cao cấp góp phần khẳng định vị thế của Chấp hành viên và giảm bớt thủ tục hành chính do tuyển chọn, bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 05 năm mà trước đây đã thực hiện. Một số chức danh được bổ nhiệm phù hợp với tính chất đặc thù của hoạt động THADS, như: Thẩm tra viên, Thư ký THADS. Kinh phí hoạt động, trụ sở làm việc, công cụ hỗ trợ thi hành án, ứng dụng công nghệ thông tin và phương tiện, trang thiết bị cần thiết khác cho cơ quan THADS được bảo đảm hơn đã tăng cường tính độc lập, tính ổn định, sức mạnh và trách nhiệm của cơ quan THADS, quyết định đến hiệu quả công tác THADS.

Ba là, trình tự, thủ tục THADS được quy định đầy đủ, cụ thể, dễ thực hiện hơn:

Với nhiều quy định được kế thừa có chọn lọc từ Pháp lệnh Thi hành dân sự năm 2004 và đặc biệt là những quy định mới về trình tự, thủ tục THADS, Luật THADS đã tạo điều kiện cho hoạt động thi hành dân sự được tiến hành nhanh chóng, hiệu quả. Thủ tục nhận bản án, quyết định của cơ quan thi hành án và trách nhiệm chuyển giao bản án, quyết định của Tòa án được quy định chặc chẽ, ràng buộc trách nhiệm cao hơn, khắc phục tình trạng không chuyển hoặc chậm chuyển bản án, quyết định cho cơ quan THADS.

Nhiều quy định mới thể hiện sự phù hợp trong nghiệp vụ THADS, như: Người được thi hành án có trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án. Biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn tình trạng người phải thi hành án tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Xây dựng kế hoạch cưỡng chế thi hành án. Cơ chế định giá tài sản nếu các bên đương sự không thỏa thuận được giá tài sản thì có thể thỏa thuận chọn hoặc Chấp hành viên chọn tổ chức thẩm định giá để xác định giá tài sản để đưa tài sản ra bán đấu giá đã xóa bỏ sự nghi ngờ về tính xác thực của giá tài sản do Hội đồng định giá thực hiện mà Chủ tịch Hội đồng là Chấp hành viên như trước đây, giảm thiểu những khiếu nại của đương sự về giá tài sản, giảm bớt phần rủi ro cho Chấp hành viên do không có đủ chuyên môn để quyết định giá tài sản với tư cách là Chủ tịch hội đồng định giá tài sản. Biện pháp cưỡng chế thi hành án được xây dựng chặc chẽ, mở rộng hơn so với Pháp lệnh THADS năm 2004 là cơ pháp lý đầy đủ để cơ quan THADS thực hiện hiệu quả. Quy định về thi hành án trong một số trường hợp cụ thể để giải quyết khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành án đối với một số trường hợp cụ thể như thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự, trong đó có quy định về việc trại giam, trại tạm giam thu án phí, tiền phạt và các khoản phải thu khác đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù; thủ tục thi hành quyết định khẩn cấp tạm thời; biện pháp xử lý trong trường hợp bản án đã thi hành xong, nhưng bị huỷ do quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Toà án và thủ tục thi hành bản án về phá sản. Miễn, giảm THADS, trong đó có việc miễn thi hành đối với các khoản thu cho ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000 đồng, mà thời gian tổ chức thi hành án đã quá 5 năm, tính đến thời điểm Luật THADS có hiệu lực thi hành nhưng người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án.

Vì thế, số việc và tiền thi hành án xong tăng cao hơn năm trước, giảm nhiều việc THADS sự tồn đọng.

Bốn là, pháp huy hiệu quả mối quan hệ phối hợp trong THADS, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về THADS của cá nhân, tổ chức được nâng lên:

Từ việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan, tổ chức trong THADS, các cơ quan, tổ chức đã chủ động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình và thực hiện tốt hơn mối quan hệ phối hợp trong THADS. Nhiều địa phương đã ban hành Quy chế phối hợp trong THADS. Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, Bảo hiểm xã hội đã thực hiện kịp thời hơn các yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan THADS, nhất là thực hiện quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.

Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về THADS của cá nhân, tổ chức được nâng lên. Nhiều trường hợp người phải thi hành án tự nguyện thi hành nghĩa vụ THADS của mình, nhất là trong các đợt đặc xá. Người được thi hành án đã xác định được trách nhiệm của mình trong thi hành án, như chấp hành tốt việc xác minh điều kiện thi hành án, hạn chế tâm lý trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước.v.v.

Năm là, chủ trương tái lập chế định Thừa phát lại theo Chiến lược Cải cách tư pháp của Đảng là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn:

Mặc dù mới chỉ trong thời gian hoạt động thí điểm và với số lượng văn phòng Thừa phát lại không nhiều, nhân lực mỏng, nhưng có thể thấy, Thừa phát lại bắt đầu khẳng định được vị trí của mình trong đời sống phát luật của thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là tạo lập một nghề mới trong thị trường cung cấp dịch vụ pháp lý, dịch vụ hành chính - tư pháp. Hoạt động của Thừa phát lại đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội bước đầu như giảm tải nhân lực, thời gian và chi phí, góp phần để các hoạt động tư pháp được nhanh hơn, đúng pháp luật hơn, giảm tình trạng quá tải trong công việc của các cơ quan Tòa án và THADS tại thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời tăng cường tính chủ động, tích cực của công dân trong các quan hệ dân sự, tố tụng dân sự, hành chính, nhất là trong việc lập vi bằng, tạo lập chứng cứ, giúp người dân có cơ sở bảo vệ quyền, lợi ích của mình trong tố tụng và trong thực hiện các giao dịch.

Thực tiễn thí điểm trong thời gian qua đã khẳng định chủ trương tái lập chế định thừa phát lại theo Chiến lược Cải cách tư pháp của Đảng với việc thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn, có hiệu quả và bước đầu việc thực hiện thí điểm mô hình này đã thành công.

Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực của Luật THADS, thì cũng cho thấy còn nhiều hạn chế trong công tác THADS và khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện Luật THADS: Tổng số việc còn phải thi hành chuyển sang kỳ sau qua các năm tuy có giảm, nhưng vẫn lớn; số việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành án, nhất là về tiền vẫn chiếm tỷ lệ cao so với tổng số phải thi hành. Lượng đơn, thư khiếu nại, tố cáo phải giải quyết vẫn còn nhiều, nhất là đơn, thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp; một số vụ việc khiếu nại phức tạp kéo dài, được dư luận quan tâm chưa được các cơ quan THADS địa phương tập trung xử lý dứt điểm.. Trình độ, năng lực và ý thức tổ chức kỷ luật của một bộ phận cán bộ, công chức, kể cả cán bộ lãnh đạo quản lý còn hạn chế. Vẫn còn tình trạng Chấp hành viên, cán bộ làm công tác THADS vi phạm trình tự, thủ tục thi hành án, bị xử lý kỷ luật, một số trường hợp còn có biểu hiện tiêu cực, gây phiền hà, nhũng nhiễu đối với đương sự. Công tác tuyển dụng công chức vào Ngành THADS vẫn còn chậm, việc bổ nhiệm các chức danh Chấp hành viên, thẩm tra viên còn hạn chế. Tình trạng thiếu nguồn tuyển dụng, quá tải công việc của Chấp hành viên tại nhiều cơ quan THADS địa phương, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn, thiếu Thủ trưởng cơ quan THADS, nhất là cấp huyện chưa được khắc phục triệt để.

Một số cấp uỷ, chính quyền địa phương có lúc, có nơi chưa thực sự quan tâm, chú trọng công tác THADS. Lãnh đạo một số cơ quan THADS địa phương, các cơ quan đơn vị thuộc Tổng cục chưa phát huy tốt vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn được giao nên việc tham mưu giúp lãnh đạo Tổng cục, lãnh đạo Bộ trong công tác quản lý điều hành hoạt động THADS vẫn nhiều hạn chế. Việc chỉ đạo, kiểm tra hướng dẫn nghiệp vụ, giải quyết đơn thư, có lúc chưa kịp thời. Việc kiểm tra hoạt động của các Chấp hành viên, kiểm tra việc thực hiện chỉ đạo của cấp trên chưa chặt chẽ, quyết liệt và kịp thời.

Việc triển khai các dự án xây dựng trụ sở làm việc, kho vật chứng còn chậm; việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản tại một số đơn vị còn chưa tốt, hiệu quả chưa cao; chỗ ở, đời sống, thu nhập của cán bộ, công chức làm công tác THADS còn nhiều khó khăn, thiếu thốn.

Về cơ sở pháp lý, việc thi hành Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này còn nhiều hạn chế, thể hiện ở các nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, tiến độ xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn Luật THADS còn chậm so với yêu cầu, có một số văn bản triển khai xây dựng từ năm 2009, nhưng đến nay vẫn chưa được ban hành, như:

Thông tư liên tịch giữa Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công an hướng dẫn trại giam, trại tạm giam thu, nộp, quản lý và sử dụng tiền thi hành án; Thông tư liên tịch giữa Bộ Tư pháp, Bộ Công an hướng dẫn bảo vệ cưỡng chế thi hành án.

Thứ hai, Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này bộc lộ nhiều khiếm khuyết do chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tế, thiếu thống nhất với pháp luật có liên quan, cần sửa đổi hoặc hướng dẫn cụ thể như sau:

1. Hạn chế lớn nhất của Luật THADS hiện hành là lấy Chấp hành viên THADS làm trung tâm của hoạt động thi hành án

Theo quy định của Luật Thi hành hành án dân sự, Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định và được xác định là trung tâm của hoạt động THADS thi chưa phù hợp trong trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu. Vì thế, cần sửa đổi theo hướng hoạt động THADS phải là trách nhiệm của bên được thi hành án và bên phải thi hành án, Chấp hành viên chỉ là nhân vật hỗ trợ.

Mặt khác, quy định của Luật THADS hiện nay thiếu sự bảo đảm an toàn pháp lý cho Chấp hành viên tương tự như Thẩm phán, Điều tra viên, Kiểm sát viên. Vì vậy, cần quy định cơ chế bảo đảm an toàn pháp lý cho Chấp hành viên tương tự như các chức danh tư pháp này.

2. Quy định về THADS đối với các quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh

 Luật THADS có quy định: “Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Toà án sẽ được đưa ra thi hành”, tuy nhiên chưa quy định cụ thể trách nhiệm chứng minh sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Toà án để làm căn cứ cho cơ quan thi hành án thụ lý thi hành. Do vậy, trường hợp cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà đương sự đã khởi kiện tại toà án, đồng thời nộp đơn yêu cầu thi hành án thì dẫn đến việc thi hành án trái quy định. Do đó, cần hướng dẫn cụ thể vấn đề này.

3. Quy định về thẩm quyền kiểm sát việc thi hành án của Viện kiểm sát nhân dân

Tại khoản 2 Điều 12 Luật THADS quy định: Viện kiểm sát các cấp trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình  kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thi hành án của cơ quan THADS, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án nhằm bảo đảm việc thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật.  Nếu căn cứ quy định nêu trên thì đối tượng hoạt động kiểm sát thi hành án bao gồm cả cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan. Song, liên quan đến hoạt động THADS bao gồm nhiều đối tượng khác nhau như: hệ thống các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước (cơ quan tài nguyên môi trường, cơ quan tài chính, Ngân hàng, kho bạc nhà nước, các tổ chức tín dụng,..) và hệ thống các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (cơ quan đại diện ngoại giao, các doanh nghiệp, đơn vị bưu chính viễn thông ...).

 Do vậy, nếu Viện kiểm sát cũng thực hiện chức năng kiểm sát đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước, hoạt động kinh doanh thương mại và các hoạt động khác có liên quan đến hoạt động thi hành án thì không phù hợp với chức năng của Viện kiểm sát là kiểm sát các hoạt động tư pháp (điều tra, xét xử, thi hành án) quy định tại Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.

4. Quy định đơn yêu cầu thi hành án phải có thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án

Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật THADS, đơn yêu cầu thi hành án phải có "Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án". Do vậy, trường hợp đơn yêu cầu thi hành án không có đầy đủ các nội dung quy định và người được thi hành án không yêu cầu xác minh thì cơ quan THADS thực hiện theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ “thông báo để đương sự bổ sung nội dung đơn yêu cầu thi hành án trước khi ra quyết định thi hành án”.

Tuy nhiên, quy định này chưa cụ thể về biện pháp xử lý trong trường hợp đã hướng dẫn nhưng người được thi hành án vẫn không cung cấp thông tin hoặc không yêu cầu Chấp hành viên xác minh tài sản, như: Trường hợp người được thi hành án cung cấp thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án hoặc có yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành xác minh theo thông báo của cơ quan thi hành án thì cơ quan thi hành án có được tiến hành việc nhận đơn yêu cầu thi hành án, vào sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án, ra quyết định và thụ lý thi hành án không? Thủ trưởng cơ quan thi hành án chưa ra quyết định thi hành án nhưng có cần thông báo cho đương sự biết không ? Vì vậy, cần được quy định cụ thể hơn đối với vấn đề này.

5. Quy định chủ động ra quyết định thi hành án đối với khoản “lệ phí Toà án”

Khoản 1 Điều 36 Luật THADS quy định Thủ trưởng cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành đối với phần bản án, quyết định nhất định. Thực tiễn cho thấy, có những bản án, quyết định của Tòa án có phần lệ phí Tòa án (đối với các việc dân sự), do đó cần bổ sung khoản lệ phí Tòa án vào loại chủ động ra quyết định thi hành án tại điểm a khoản 1 Điều 36 Luật THADS.

6. Về xác minh điều kiện thi hành án

a) Điều 44 Luật THADS quy định, việc xác minh điều kiện thi hành án phải lập thành biên bản, có xác nhận của Tổ trưởng tổ dân phố, UBND cấp xã, Công an xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi tiến hành xác minh. Do đó, dẫn đến cách hiểu là nếu thiếu một trong ba chữ ký xác nhận của người có trách nhiệm nêu trên thì biên bản xác minh điều kiện thi hành án không có giá trị pháp lý. Tuy nhiên trên thực tế, Tổ trưởng Tổ dân phố tuy nắm rõ điều kiện của người phải thi hành án, nhưng thường đi làm vắng, không thường xuyên ở nhà nên khó liên hệ, mặt khác họ sợ trách nhiệm và ngại va chạm. Trong khi đó, Nhà nước cũng không có chính sách đãi ngộ thỏa đáng và không có cơ chế quy trách nhiệm đối với họ, nên họ thường không nhiệt tình hợp tác. Điều này khiến cơ quan thi hành án gặp không ít khó khăn khi xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Do vậy, Điều 44 Luật THADS cần sửa đổi theo hướng chỉ cần một trong số chữ ký của những người nêu trên là đủ.

b) Thời gian xác minh

Khoản 2 Điều 44 quy định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh của người được thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh, trong khi đó tại khoản 1 Điều 45 quy định thời hạn tự nguyện là 15 ngày kể từ ngày người phải thi hành án nhận được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Như vậy, có sự không thống nhất về thời gian để tiến hành xác minh điều kiện thi hành án theo quy định của Luật THADS, cần sửa đổi thống nhất là 15 ngày.

7. Quy định về đình chỉ thi hành án

Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 50 Luật THADS thì  người phải thi hành án là tổ chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác. Quy định này thực tế không tránh khỏi khiếu nại của đương sự nếu áp dụng quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh tại Điều 46 Nghị định số 88/2006/NĐ-CP và Điều 158 Luật doanh nghiệp, theo đó người đại diện theo pháp luật, tất cả các thành viên của doanh nghiệp bị giải thể liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác chưa thanh toán trong trường hợp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Mặt khác, quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 50 Luật THADS về phần nêu trên tạo kẽ hở pháp lý để doanh nghiệp thực hiện giải thể nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản, các khoản nợ trái pháp luật trong hoạt động thi hành án.

8. Quy định về trả đơn yêu cầu thi hành án

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật THADS thì có trường hợp được ra quyết định thi hành án nhưng không có căn cứ để quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án khi không thực hiện được. Đó là trường hợp giao con chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng bên được thi hành án và cơ quan thi hành án không xác định được nơi cư trú, sinh sống của người chưa thành niên, người có nghĩa vụ phải giao con nuôi dưỡng. Trường hợp này, việc thi hành án được xác định là không có điều kiện và phải kéo dài, cơ quan thi hành án vẫn phải theo dõi mà không có căn cứ để ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án. D dod, cần bổ sung trường hợp này.

9. Chuyển giao quyền, nghĩa vụ thi hành án đối với doanh nghiệp nhà nước giải thể, cổ phần hoá

a) Điểm d khoản 1 Điều 54 Luật THADS quy định trường hợp giải thể thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải thể thông báo cho cơ quan THADS biết trước khi ra quyết định. Nội dung này khó thực hiện trên thực tiễn do cơ quan có thẩm quyền giải thể doanh nghiệp (cơ quan đăng ký kinh doanh) không thể biết doanh nghiệp giải thể đang phát sinh tranh chấp với ai, tại địa bàn nào để thông báo.

b) Luật THADS quy định về trách nhiệm thi hành án trong trường hợp doanh nghiệp giải thể trái pháp luật do lỗi của cơ quan ra quyết định giải thể. Thực tiễn phát sinh việc giải thể trái pháp luật do lỗi của chính doanh nghiệp bị giải thể mà Luật THADS chưa quy định, vì vậy cần bổ sung quy định về trách nhiệm của cá nhân, tổ chức đã thực hiện giải thể doanh nghiệp trái pháp luật, phù hợp quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh.

c) Tại điểm e khoản 1 Điều 54 của Luật THADS quy định: “Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần mà trước đó chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình thì sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp đó tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án”. Theo Điều 10 Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần thì Công ty cổ phần không có trách nhiệm thanh toán khoản nợ của doanh nhiệp nhà nước đã chuyển đổi, nếu sau thời điểm chuyển đổi, công ty cổ phần không được bàn giao trách nhiệm thanh toán.

Vì vậy, cần quy định cụ thể: “Trong trường hợp này, doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần mà trước đó chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình thì sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp là công ty cổ phần tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án”.

10. Việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án

Điều 59 Luật THADS quy định: “Trường hợp theo bản án, quyết định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ được nhận, nhưng tại thời điểm thi hành án, giá tài sản thay đổi và một trong các bên đương sự có yêu cầu định giá tài sản đó thì tài sản được định giá theo quy định tại Điều 98 của Luật này để thi hành án”. Tuy nhiên, điều luật lại không quy định cụ thể việc định giá để thi hành án trong trường hợp trượt giá được xác định theo tỷ lệ như thế nào, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này cũng chưa quy định chi tiết.

Vì vậy, cần sửa đổi theo hướng cụ thể như sau: “Trường hợp theo bản án, quyết định mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản họ được nhận, nhưng tại thời điểm thi hành án, giá tài sản thay đổi tăng hoặc giảm từ 20% trở lên và một trong các bên đương sự có yêu cầu định giá tài sản đó thì Chấp hành viên tổ chức định giá tài sản theo quy định tại Điều 98 của Luật này để thi hành án bằng tiền tương ứng với tỷ lệ giá trị tài sản được chia tại thời điểm thi hành án”.

11. Điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án

Theo quy định tại Điều 61 Luật THADS và khoản 1 Điều 26 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ thì “Người phải thi hành nghĩa vụ đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đã thi hành được ít nhất bằng 1/20 khoản phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch thì được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 Luật THADS”.

Như vậy, hiện nay pháp luật quy định điều kiện xét miễn, giảm đối với người phải thi hành án phải “đã thi hành được ít nhất bằng 1/20 khoản phải thi hành, nhưng giá trị không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch” là bắt buộc. Do đó, nếu người phải thi hành án chưa thi hành được ít nhất bằng 1/20 khoản phải thi hành, thì chưa đủ điều kiện xét miễn, giảm thi hành án. Chính vì thế, đối với các trường hợp mà người phải thi hành các khoản thu nộp ngân sách nhà nước trên 5.000.000 đồng không thực hiện được việc xét miễn, giảm thi hành án vì người phải thi hành án quá nghèo, không thể thi hành được 1/20 khoản phải thi hành án hoặc trường hợp không xác định được địa chỉ và tài sản của người phải thi hành án, thì những hồ sơ không thể miễn, giảm được, dẫn đến án tồn đọng.

Do đó, cần sửa theo hướng bỏ điều kiện “người phải thi hành án đã thi hành được một phần (1/20) khoản thu nộp ngân sách nhà nước” và bổ sung trường hợp không xác định được địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án thì có thể được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại tại Điều 61 Luật THADS và quy định rõ trong trường hợp không xác định được địa chỉ của người phải thi hành thì cũng được xét miễn, giảm thi hành án. Trước mắt đề nghị sửa Nghị định 58/2009/NĐ-CP nêu trên của Chính phủ theo hướng có thể nâng mức “một phần” này từ 1/20 lên 1/50.

12. Chi phí thông báo về THADS

Tại khoản 4 Điều 39 Luật THADS quy định: “Chi phí thông báo do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật quy định ngân sách nhà nước chi trả hoặc người được thi hành án chịu”. Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này quy định chưa cụ thể về từng loại chi phí thông báo về thi hành án do người phải thi hành án, ngân sách nhà nước chi trả hoặc người được thi hành chịu?

13. Biện pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự và tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

Điều 68 Luật THADS quy định trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tạm giữ tài sản, giấy tờ, Chấp hành viên ra một trong các quyết định sau: Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án nếu xác định được tài sản, giấy tờ tạm giữ thuộc sở hữu của người phải thi hành án; trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ cho đương sự trong trường hợp đương sự chứng minh tài sản, giấy tờ tạm giữ không thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án. Tương tự, tại Điều 69 Luật THADS quy định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Chấp hành viên ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng thay đổi hiện trạng tài sản, Chấp hành viên phải có quyết định xử lý.

Trên thực tế, việc xác định chủ sở hữu không thực sự dễ dàng, phụ thuộc rất nhiều vào việc phản hồi của các cơ quan chức năng quản lý tài sản. Việc quy định thời hạn 15 ngày Chấp hành viên phải ra quyết định xử lý là rất khó khăn. Nhiều trường hợp hết 15 ngày vẫn chưa xác định được chủ sở hữu tài sản thì Chấp hành viên không thể áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án ngay được nên cần kéo dài thời gian này.

14. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án gắn liền với tài sản của người khác

- Đối với việc xử lý nhà ở của người phải thi hành án được xây dựng trên đất của người khác, thì trong nhiều trường hợp, người phải thi hành án chỉ có tài sản duy nhất là ngôi nhà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhưng nằm trên đất mượn, cơ quan THADS đã tiến hành kê biên ngôi nhà để đảm bảo thi hành án, nhưng hầu như không thể xử lý tiếp được. Trong khi đó, Luật Nhà ở không cấm chủ sở hữu nhà đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu tham gia các giao dịch. Khi các giao dịch này được thực hiện, phát sinh tranh chấp, sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền, đến giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án thường gặp phải khó khăn nêu trên.

Việc xử lý quyền sử dụng đất nhưng trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác là tình huống mà cơ quan thi hành án thường gặp phải trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định nhưng để xử lý được thì rất khó khăn, mất nhiều thời gian, chi phí.

- Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở để kê biên bảo đảm thi hành án: Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật dân sự năm 2005 thì đăng ký là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sở hữu hoặc sử dụng tài sản phải đăng ký, nhưng cũng theo quy định tại Điều 168, nguyên tắc này sẽ bị loại trừ nếu trường hợp pháp luật có quy định khác. Theo khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở thì quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, bên nhận tặng cho, bên thuê mua, bên nhận đổi nhà ở kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng. Như vậy, nhà ở cũng là một trong những loại tài sản thuộc diện loại trừ của Điều 168 Bộ luật dân sự vì theo quy định trên quyền sở hữu đối với nhà ở được chuyển kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng. Vấn đề là trường hợp chủ sở hữu nhà là người phải thi hành án đã tiến hành bán ngôi nhà đó, hợp đồng bán nhà đã được công chứng tại Phòng công chứng, nhưng người mua chưa làm thủ tục sang tên đối với ngôi nhà đó, theo Bộ luật dân sự và Luật đất đai thì quyền sử dụng đất chưa được chuyển giao cho người mua (vì chưa đăng ký), nhưng theo khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở thì ngôi nhà đã được chuyển quyền sở hữu cho người mua. Trường hợp này, cơ quan THADS xử lý ngôi nhà trên để thi hành án gặp phải sự phản ứng gay gắt của đương sự, cũng như sự vướng mắc giữa các quy định của pháp luật. Nếu không kê biên nhà đất của người phải thi hành án (trường hợp vẫn còn giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, dù nhà đã bán và có công chứng) thì người được thi hành án sẽ khiếu nại vì cho rằng Chấp hành viên tạo điều kiện cho người phải thi hành án tẩu tán tài sản. Vì vậy, cần kiến nghị sửa đổi các quy định của pháp luật liên quan để xử lý thống nhất vấn đề này.

15. Bảo đảm quyền ưu tiên mua tài sản chung

Điều 74 Luật THADS quy định về kê biên, xử lý tài sản chung, tuy nhiên không quy định cụ thể về điều kiện bán tài sản, cách thức thực hiện quyền ưu tiên mua, bán tài sản chung, trong khi đó quyền định đoạt tài sản chung được quy định tại Điều 223 Bộ luật dân sự năm 2005 nhưng cũng không cụ thể.

Do đó, cần quy định cụ thể về điều kiện, cách thức bảo đảm quyền ưu tiên mua tài sản chung trong THADS. Ví dụ, đồng sở hữu được mua theo giá khởi điểm hay phải tham gia mua đấu giá và chỉ được ưu tiên khi có ít nhất hai người trả giá ngang nhau.v.v.

16. Định giá tài sản đã kê biên

Luật THADS quy định về định giá tài sản trong THADS  chưa đầy đủ, có một số vướng mắc cần được quy định một số nội dung sau:

- Về việc Chấp hành viên xác định giá tài sản kê biên theo khoản 3 Điều 98 Luật THADS và Điều 15 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ, thực tế nhiều cơ quan chuyên môn không biết hoặc không tạo điều kiện cho cơ quan THADS, nhưng chưa quy định cơ chế bắt buộc cơ quan chuyên môn phải có ý kiến. Vì thế, cần quy định cụ thể theo hướng trường hợp cơ quan chuyên môn không có ý kiến theo đề nghị của Chấp hành viên thì Thủ trưởng cơ quan THADS báo cáo, đề nghị Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo các cơ quan nói trên có ý kiến để Chấp hành viên xác định giá tài sản kê biên.

- Về quyền yêu cầu định giá lại tài sản kê biên

Trường hợp đương sự có yêu cầu định giá lại tài sản kê biên trước khi có thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 99 Luật THADS thì Chấp hành viên tổ chức định giá lại tài sản kê biên. Điều luật không quy định được yêu cầu đến lần thức mấy, thực tế có trường hợp người phải thi hành án lợi dụng quy định này để yêu cầu định giá lại nhiều lần nhằm kéo dài việc thi hành án. Vì thế, cần quy định bổ sung theo hướng đương sự chỉ được yêu cầu định giá lần một lần đối với tài sản bán đấu giá không thành.

- Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về định giá tài sản kê biên

Quy định của pháp luật chưa rõ, nhất là đối với khiếu nại về kết quả định giá tài sản của tổ chức thẩm định giá được giải quyết theo pháp luật về thẩm định giá, thì thẩm quyền, thủ tục giải quyết như thế nào ? Vì vậy, cần quy định đối với những khiếu nại về kết quả thẩm định giá tài sản hoặc hành vi, quyết định của tổ chức thẩm định giá thì cơ quan THADS không thụ lý giải quyết. Nếu đương sự không đồng ý với kết quả thẩm định giá do tổ chức thẩm định giá đưa ra và yêu cầu định giá lại tài sản kê biên trước khi thông báo công khai việc bán đấu giá, thì Chấp hành viên tổ chức định giá lại theo quy định.

17. Xử lý tài sản bán đấu giá không thành

Điều 100 của Luật THADS về giao tài sản để thi hành án quy định:  Trường hợp đương sự thoả thuận để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi hành án thì Chấp hành viên lập biên bản về việc thoả thuận; việc giao tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có thoả thuận. Như vậy, theo tinh thần Điều luật này thì việc giao tài sản để thi hành án phải có sự thỏa thuận được của các bên đương sự. Tuy nhiên, Điều 104 Luật THADS về xử lý tài sản bán đấu giá không thành quy định như sau: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày bán đấu giá không thành mà đương sự không yêu cầu định giá lại thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Mỗi lần giảm giá không quá mười phần trăm giá đã định. Trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án không nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án”.

Trong trường hợp này, Luật THADS lại không quy định rõ là cần có thỏa thuận của các bên đương sự không hay chỉ cần người được thi hành án đồng ý là cơ quan thi hành án thực hiện việc giao tài sản cho người đó để khấu trừ tiền thi hành án. Trong khi đó, hiện nay các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật THADS cũng không quy định cụ thể thêm về vấn đề này. Do vậy, trường hợp giá tài sản đã giảm thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án đồng ý nhận tài sản bán đấu giá không thành, nhưng người phải thi hành án không đồng ý giao, thì chưa có sở pháp lý để giao tài sản đó cho người được thi hành án. Cơ quan thi hành án vẫn phải tổ chức hạ giá, bán tài sản là không khả thi.

Vì thế, cần sửa đổi quy định về bán đấu giá tài sản theo hướng sau khi giảm giá một số lần (có thể là 05 lần hoặc sau khi đã giảm bằng ½ trị giá tài sản đã kê biên) mà không có người mua thì giao tài sản kê biên cho người được thi hành án để trừ vào số tiền được thi hành án không cần có sự đồng ý của người phải thi hành án và những người có chung tài sản bị kê biên đó; nếu người được thi hành án không nhận thì tài sản được trả lại cho người phải thi hành án.

18.  Cưỡng chế đối với tài sản kê biên là quyền sở hữu trí tuệ

Một trong những quy định mới của Luật THADS là cưỡng chế đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP quy định tại Điều 16 chưa hướng dẫn về trình tự thủ tục, phương pháp định giá quyền sở hữu trí tuệ (theo yêu cầu tại khoản 2 Điều 85 Luật THADS). Quy định tại Điều 17 Luật THADS chưa về trình tự, thủ tục bán đấu giá trong khi loại tài sản này cần phải có quy định riêng, không thể thực hiện như các loại tài sản hữu hình khác. Tương tự, việc kê biên quyền sở hữu trí tuệ để thực hiện Điều 84 Luật THADS cũng cần phải có hướng dẫn cụ thể vì trong quyền sở hữu trí tuệ có rất nhiều loại như tác phẩm, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, bằng sáng chế..., trong đó mỗi loại có quyền nhân thân, quyền tài sản. Với sự đa dạng và phức tạp của quyền sở hữu trí tuệ, nếu không có hướng dẫn cụ thể thì Chấp hành viên (là người chưa có hiểu biết nhiều và chưa có kinh nghiệm về quyền sở hữu trí tuệ) rất dễ nhầm lẫn, sai sót, có thể dẫn đến bồi thường. Vì thế, cần quy định chi tiết, cụ thể hơn.

19. Thứ tự thanh toán tiền thi hành án

Điểm b khoản 2 Điều 47 Luật THADS quy định: “Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án nào thì thanh toán cho những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó. Số tiền còn lại được thanh toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính đến thời điểm thanh toán”.

Quy định này chưa cụ thể, dẫn đến 02 các hiểu khác nhau:

- Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án nào thì thanh toán cho những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó, nghĩa là chỉ những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu thi hành án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế nhưng quyết định cưỡng chế đó phải căn cứ theo đơn yêu cầu thi hành án của họ mới được thanh toán. Đối với những người được thi hành án không thuộc quyết định cưỡng chế đó, mặc dù đã có đơn yếu cầu thi hành án trước khi có quyết định cưỡng chế, thì không được ưu tiên thanh tóan.

- Số tiền thi hành án thu theo quyết định cưỡng chế thi hành án nào thì thanh toán cho những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó, nghĩa là thanh toán cho tất cả những người được thi hành án đã có đơn yêu cầu tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó không phụ thuộc vào việc đơn yêu cầu thi hành án có phải là căn cứ để cưỡng chế hay không.

Quy định này cần được hướng dẫn theo cách hiểu thứ hai nêu trên.

20. Lãi chậm thi hành án

a) Về mức lãi suất chậm thi hành án

Luật THADS năm 2008 không quy định về lãi phát sinh do chậm thi hành án, tuy nhiên đây là một nghĩa vụ dân sự được quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005.

Trước đây, là khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự năm 1995 và khoản 1 mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính quy định lãi chậm thi hành án tính theo mức “lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định”. Hiện nay, mức lãi này là “lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố” quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005 và Công văn số 165/KHXX ngày 18/10/2007 của Tòa án nhân dân tối cao.

Thực tế, nhiều trường hợp bản án, quyết định trước thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực có tuyên lãi chậm thi hành án theo mức “lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước quy định” đến nay chưa thi hành xong, thì việc tính lãi theo mức mới hay vẫn phải thi hành đúng nội dung bản án cần được hướng dẫn cụ thể.

b) Về thời điểm tính chậm thi hành án

Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 nêu trên không quy định rõ trong trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu phần tiền gốc mà chưa yêu cầu thi hành án đối với khoản lãi chậm thi hành án, thì thi hành như thế nào.

Vì vậy, cần quy định cách xác định thời điểm tính lãi phát sinh do chậm thi hành án kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án và khi tính lãi chậm thi hành án chỉ tính lãi của số tiền còn phải thi hành án, mà không tính lãi của số tiền chưa trả trong quá trình thi hành án.

c) Về phương thức thanh toán lãi suất chậm thi hành án

Trong trường hợp người phải thi hành thi hành nhiều lần thì phương thức thanh toán tiền lãi suất được thanh toán trừ trước hay thanh toán tiền gốc rồi mới thanh toán tiền lãi. Cần quy định cụ thể theo hướng, số tiền thi hành án đã thu được thanh toán cho tiền lãi tính đến thời điểm thanh toán và trừ tiền gốc đến thời điểm đó, kể từ thời điểm thanh toán thì số tiền gốc còn lại phát sinh lãi chậm thi hành án.

21. Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc

Điều 121 Luật THADS quy định về cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc, theo đó điểm mới là Chấp hành viên có quyền đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người sử dụng lao động không chấp hành án, nhưng vì không có Thông tư liên tịch giữa Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao nên nếu cơ quan THADS đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 304 Bộ luật hình sự thì cũng khó được chấp nhận. Do đó, cần có Thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

22. Về thủ tục tạm ngừng thi hành án để giải quyết khiếu nại, tố cáo

Điểm b khoản 1 điều 145 Luật THADS quy định: “Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền tạm dừng việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc yêu cầu cơ quan THADS tạm ngừng việc thi hành án trong thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật này, nếu xét thấy việc thi hành án sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích  hợp pháp của đương sự hoặc ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại”.

Vấn đề tạm ngừng thi hành án để giải quyết khiếu nại vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể, việc giải quyết các vấn đề phát sinh khi tạm ngừng thi hành án thì cũng chưa có quy định. Do đó đề nghị có quy định thủ tục, trình tự và hình thức tạm ngừng thi hành án để giải quyết khiếu nại.

23. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự với cơ quan THADS trong việc thu tiền thi hành án

Khoản 3 Điều 180 Luật THADS quy định cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành dân sự thu tiền thi hành án theo quy định của Luật THADS. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có hướng dẫn về vấn đề này.

24. Về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS

Mặc dù Luật THADS đã có một chương quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của của các cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS, tuy nhiên công tác THADS được thực hiện với sự tham gia của nhiều ngành nhưng pháp luật hiện hành chưa quy định rõ trách nhiệm của các ngành phải tham gia hoặc hỗ trợ hoạt động thi hành án, đặc biệt là trách nhiệm của Tòa án. Do đó, cần quy định cụ thể hơn vấn đề này.

25. Tương trợ tư pháp về THADS

Khoản 3 Điều 126 Luật THADS quy định đối với giấy tờ liên quan đến tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo nếu đương sự không đến nhận, Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy định. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định trường hợp cơ quan ban hành giấy tờ có trụ sở ở nước ngoài thì thực hiện trả lại giấy tờ như thế nào?

Mặt khác, Điều 181 Luật THADS quy định tương trợ tư pháp về thi hành án như sau:

“1. Việc yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án, việc tiếp nhận và xử lý uỷ thác tư pháp về thi hành án của nước ngoài trong quá trình thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.

2. Cơ quan THADS có yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án phải lập hồ sơ uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp”.

Việc THADS đối với bản án, quyết định có yếu tố nước ngoài hiện nay pháp Luật THADS hiện hành chưa có quy định cụ thể thủ tục uỷ thác tư pháp quốc tế về THADS hoặc việc xác minh điều kiện thi hành án và thực hiện việc thi hành án tại nước ngoài như thế nào. Do đó, việc chỉ đạo về  thi hành án đối với người nước ngoài có khó khăn.

Do đó, cần quy định cụ thể về ủy thác tư pháp trong THADS, trong đó có nội dung:

- Trong trường hợp cơ quan ban hành giấy tờ có trụ sở ở nước ngoài thì thực hiện tương trợ tư pháp. Văn bản yêu cầu tương trợ tư pháp và các tài liệu kèm theo được dịch ra ngôn ngữ quy định tại Điều 5 Luật Tương trợ tư pháp và gửi tới Vụ Pháp luật Quốc tế, Bộ Tư pháp đề nghị uỷ thác cho cơ quan có thẩm quyền.

- Đối với trường hợp bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, ngươì phải thi hành án là người nước ngoài, đang cư trú ở nước ngoài có địa chỉ rõ ràng. Cơ quan thi hành án cần gửi 03 bộ hồ sơ thi hành án (01 bản gốc và 02 bản sao) kèm công văn đề nghị Vụ Pháp luật Quốc tế, Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ tới cơ quan có thẩm quyền (nơi người phải thi hành án cư trú) để tiếp tục thi hành bản án.

26. Về Thừa phát lại

Hiện nay, tổ chức Thừa phát lại đã được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh, mặc dù đang ở giai đoạn thí điểm hoạt động nhưng đã bước đầu thực hiện vai trò xã hội hoá công tác THADS theo đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Để nâng cao vị trí vai trò hoạt động của tổ chức Thừa phát lại cần bổ sung vào Luật THADS các quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại.

Thứ ba, Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này chưa đầy đủ các quy định điều chỉnh những vấn đề trong thực tiễn THADS. Đó là:

1. Chưa quy định về việc xử lý tài sản của người phải thi hành gắn liền với quyền sử dụng đất của người khác để đảm bảo thi hành án nếu tài sản đó không thể tách rời đất.

2. Chưa có quy định cụ thể về kê biên, xử lý tài sản phù hợp với đặc thù vùng miền, chính sách, như: ao cá ở đồng bằng Sông Cửu Long, quyền sử dụng đất của đồng bào dân tộc thiểu số v.v..

3. Chưa quy định về cưỡng chế giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án bị kháng nghị, tạm đình chỉ, đình chỉ hoặc bị hủy để xét xử lại hoặc bị khởi kiện hợp đồng mua đấu giá tài sản chưa cụ thể.

4. Chưa quy định về thi hành án trong một số trường hợp cụ thể đối với việc thi hành án hành chính: Theo Luật tố tụng hành chính được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2010 quy định về trách nhiệm của cơ quan THADS đối với bản án giải quyết vụ án hành chính của Toà án. Do trước đây Luật THADS ra đời khi chưa có Luật tố tụng hành chính nên phạm vi điều chỉnh chưa quy định về nội dung “Thi hành các bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính; thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thi hành các quyết định của cơ quan hành chính nhà nước sau báo cáo kết luận thanh tra”.

Những vấn đề nêu trên cần được bổ sung vào Luật THADS.

Thứ tư, Luật THADS và nhiều Luật chuyên ngành khác còn những mâu thuẫn, không đồng bộ:

Luật THADS đã khắc phục nhiều mâu thuẫn, chồng chéo với các lĩnh vực pháp luật khác. Tuy nhiên, đến nay cho thấy còn nhiều mâu thuẫn giữa Luật THADS với các Luật khác và các Luật khác với nhau về một số lĩnh vực như: tài chính, ngân hàng, đất đai.v.v. dẫn đến sự không đồng bộ trong hệ thống pháp luật hiện nay, như: Thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản là nhà ở, chuển quyền sử dụng đất giữa Bộ luật dân sự, Luật Đất đai vàLuật Nhà ở; trách nhiệm của Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác trong việc cung cấp thông tin về tài khoản của người phải thi hành án cho Chấp hành viên, Thừa phát lại và người được thi hành án giữa pháp Luật THADS, Luật Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.

Vì thế, cần được rà soát, đánh giá, sửa đổi, bổ sung Luật THADS và các Luật khác để tạo sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, bảo đảm cho hoạt động THADS hiệu quả hơn.

Nguyên nhân về chủ quan là do công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành có lúc còn chưa kịp thời và thiếu quyết liệt; việc kiểm tra công tác phân loại hồ sơ thi hành án, tuy đã được quan tâm, nhưng chuyển biến còn chậm. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng đối với cán bộ, công chức làm công tác THADS còn chưa thường xuyên; công tác quy hoạch, bổ nhiệm, chuyển ngạch Chấp hành viên, đào tạo, bồi dưỡng, nhất là nguồn cán bộ lãnh đạo quản lý còn chậm và chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Trình độ của cán bộ, công chức THADS chưa thực sự đồng đều. Quan hệ phối hợp trong công tác THADS có lúc, có nơi còn chưa kịp thời, nhất là việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật THADS và hướng dẫn, chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về chuyên môn, nghiệp vụ THADS.

Về khách quan, Luật THADS ra đời với thời gian chưa nhiều, một số quy định trong Luật chưa được xã hội thích nghi, có những quy định chưa thể áp dụng được trong thực tế cuộc sống, trong tình hình kinh tế xã hội nên Luật THADS đi vào thực tế chưa sâu, chưa thật sự có hiệu quả. Một số quy định của Luật chưa được hướng dẫn cụ thể, nên việc áp dụng chưa thống nhất trong thực tế dẫn đến hiệu quả tác động của Luật chưa cao.

Mặt khác, hiệu quả hoạt động THADS chưa cao còn vì công tác quản lý nhà nước về tài chính, tài sản của tổ chức, cá nhân chưa chặt chẽ. Hơn nữa, theo quy định pháp luật của nhiều nước trên thế giới thì tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động THADS là đã áp dụng đầy đủ, chính xác các thủ tục THADS đối với các vụ việc chứ không phải là tỷ lệ tiền, tài sản thu được trong quá trình thi hành án. Quá trình tổ chức THADS phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, nhiều vụ việc thi hành án bị kéo dài, không thể thi hành dứt điểm ngay được; nhiều trường hợp đương sự phải thi hành án không có điều kiện thi hành, đang chấp hành hình phạt tù, không có tài sản, thu nhập để thi hành án. Vẫn còn tồn tại tình trạng án tuyên không rõ, khó thi hành, không ít bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải xét xử lại nhiều lần, kết quả các lần xét xử lại trái ngược nhau, đặc biệt là, có một số vụ việc, cơ quan THADS đã tổ chức thi hành xong, nhưng bản án bị tòa án kháng nghị hủy bỏ đã gây khó khăn, phức tạp cho việc thi hành án và xử lý hậu quả của việc kháng nghị đó.

Tình hình kinh tế bị suy giảm, giá cả leo thang, thiên tai, lũ lụt và dịch bệnh xảy ra tại nhiều địa phương đã ảnh hưởng nhất định đến đời sống của cán bộ, công chức; tính chất công việc thi hành án hết sức phức tạp, chịu nhiều áp lực, không hấp dẫn và thu hút được nhiều người vào công tác trong ngành; nguồn ngân sách, kinh phí cấp phát cho công tác thi hành án còn khó khăn, giá cả thị trường biến động mạnh cũng đã ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng trụ sở và kho vật chứng thi hành án. Ý thức tuân thủ pháp luật của một số tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thi hành án, nhất là của người phải thi hành án chưa cao; vẫn còn trường hợp người phải thi hành án cố tình chây ỳ, tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, khiếu nại vượt cấp nhằm mục đích kéo dài, gây khó khăn cho việc thi hành án.

Để pháp luật THADS nói chung và Luật THADS nói riêng ngày càng được hoàn thiện hơn, áp dụng hiệu quả vào thực tiễn, góp phần tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác THADS, Bộ Tư pháp đề nghị: Quốc hội cho phép nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật THADS và các Luật khác có liên quan đến công tác THADS để tạo hành lang pháp lý chặc chẽ, thống nhất giữa các Luật để công tác THADS đạt hiệu quả cao hơn. Trước mắt, đề nghị Chính phủ giao cho Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan soạn thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 “quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về thủ tục THADS”, trong đó tập trung vào nhữung vấn đề vướng mắc bức xúc, như: Nâng tỷ lệ chấp hành một phần hình phạt làm điều kiện miễn, giảm thi hành án; quy định chi tiết hơn cơ chế thi hành án khi có thay đổi về giá trị tài sản tại thời điểm thi hành án v.v. Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 của Chính phủ nhằm tạo cơ sở pháp lý tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan quản lý và cơ qaun THADS. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Bộ, ngành hữu quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ động và tiếp tục phối hợp với Bộ Tư pháp rà soát, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn những vấn đề liên quan đến công tác THADS, tạo điều kiện cho các cơ quan THADS thực hiện việc thi hành án đúng pháp luật hơn. Đề nghị cấp ủy, chính quyền các địa phương tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, các cấp ủy Đảng cấp dưới, chính quyền cấp dưới thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong THADS đã được Luật THADS quy định; tăng cường giám sát, kiểm tra công tác THADS, nhất là việc chấp hành pháp luật về THADS.

Anh Tuấn