Thực trạng phân công nhiệm vụ đối với Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự và một số giải pháp hoàn thiện

Chấp hành viên (CHV) là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 20 Luật Thi hành án dân sự (THADS) năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật THADS). Theo quy định, CHV tổ chức thi hành bản án, quyết định theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan THADS. Tuy nhiên, chi tiết các vấn đề liên quan đến việc phân công nhiệm vụ đối với CHV như nguyên tắc phân công, hình thức phân công, tiêu chí phân công, trách nhiệm của người phân công, ... chưa được pháp luật quy định cụ thể. Do đó, thực tế các cơ quan THADS thường áp dụng tiêu chí phân công nhiệm vụ cho CHV theo cách hợp lý nhất, trong đó phương pháp phân công nhiệm vụ cho CHV theo địa giới hành chính (theo địa bàn) là phổ biến hơn cả.  

Một số tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong công tác theo dõi thi hành án hành chính và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác theo dõi thi hành án hành chính của các cơ quan thi hành án dân sự

Thi hành án là hoạt động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được thi hành trên thực tế, được Hiến pháp quy định nhằm  bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Đối với công tác thi hành án hành chính (THAHC), Luật Tố tụng hành chính (TTHC) năm  2015 hiện hành đã dành riêng một Chương (chương XIX) quy định về trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính; quy định Chính phủ là cơ quan thống nhất quản lý nhà nước về công tác THAHC trong phạm vi cả nước, Bộ Tư pháp là cơ quan chịu trách nhiệm tham mưu giúp Chính phủ về công tác này; hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự (THADS) được giao trách nhiệm theo dõi THAHC. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định thời hạn, trình tự, thủ tục THAHC và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án, trong đó, đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS và các cơ quan THADS trong công tác theo dõi THAHC.

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trước yêu cầu rút ngắn thời gian thi hành án

Trong những năm gần đây, công tác công nghệ thông tin và thực hiện chuyển đổi số được Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Lãnh đạo Tổng cục Thi hành án dân sự (THADS), đặc biệt quan tâm, chỉ đạo tổ chức thực hiện hiệu quả và đạt được nhiều kết quả tích cực. Trong bối cảnh lượng án phải thi hành không ngừng tăng cao nhưng biên chế không tăng, thực hiện chủ trương của Đảng[1], chỉ đạo của Chính phủ[2], Thủ tướng Chính phủ[3] về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước, thời gian qua, Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS, các cơ quan THADS đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp, biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong THADS. Tuy nhiên, trước yêu cầu rút ngắn thời gian thi hành án thì việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và thực hiện chuyển đổi số là rất cần thiết.
 

Một số khó khăn, vướng mắc trong thực hiện Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành

Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015; Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ (gọi tắt là Nghị định số 62/2015/NĐ-CP; Nghị định 33/2020/NĐ-CP) là những văn bản quan trọng, tạo dựng hành lang pháp lý vững chắc, ổn định, nâng cao hiệu lực, hiệu quả cho việc triển khai hoạt động thi hành án dân sự (THADS) trên toàn quốc. Thời gian qua, kết quả công tác THADS đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, góp phần tích cực vào việc bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Chủ thể thi hành quyết định tuyên bố phá sản theo quy định của Luật phá sản của một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam

Luật phá sản 2014 (LPS 2014) của Việt Nam đã có hiệu lực thi hành trên thực tiễn được hơn sáu năm qua. Trong quá trình áp dụng hầu hết các cá nhân, tổ chức có liên quan đều đánh giá rất cao hiệu quả của LPS 2014, đặc biệt là về trình tự thủ tục từ lúc Tòa án thụ lý cho đến lúc ra quyết định tuyên bố phá sản đã được quy định phù hợp, nhanh chóng hơn so với trước đây. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện. Một trong những vấn đề đó là các quy định về chủ thể thực hiện việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã khi mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản. Bài viết này nêu lên một số quy định về chủ thể thi hành quyết định tuyên bố phá sản của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Không ngừng đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị nói chung, tổ chức mộ máy các cơ quan nhà nước riêng là chủ trương đúng đắn, xuyên suốt đã được đề ra trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng và trong quy định của Hiến pháp. Mới đây, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (Đại hội XIII) đã nhấn mạnh đến yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với nhiều điểm mới so với các kỳ Đại hội trước. Bài viết dưới đây sẽ đề cập đến các yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng[1].
 
[1] TS. Nguyễn Văn Nghĩa, Tổng cục THADS, Bộ Tư pháp.

Nội luật hoá điều ước quốc tế về hành vi làm giàu bất hợp pháp - góc nhìn từ pháp luật hình sự và thi hành án dân sự

Đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng (United Nations Convention against Corruption-UNCAC)1 Sau khi trở thành thành viên của Công ước, mặc dù, tuyên bố không bị ràng buộc bởi các quy định này,2 nhưng với quyết tâm tìm ra các cơ chế, giải pháp phòng chống tham nhũng (PCTN) hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn ở trong nước, Việt Nam đã nỗ lực nội luật hóa các quy định của Công ước và nghiên cứu khả năng nội luật hóa một số giải pháp tùy nghi như hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp (Điều 20). Cụ thể, theo Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 07/4/2010 về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp nghiên cứu hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp của công chức nếu có tài sản tăng lên đáng kể so với thu nhập hợp pháp.
 
1Việt Nam đã ký kết UNCAC từ năm 2003 và chính thức phê chuẩn, tổ chức thực thi UNCAC từ năm 2009.
2Khi phê chuẩn Công ước, Việt Nam cũng đã tuyên bố không bị ràng buộc bởi quy định tại Điều 20 của Công ước: “Phù hợp với nguyên tắc của pháp luật Việt Nam, Cộng hòa XHCN Việt Nam tuyên bố không bị ràng buộc bởi các quy định về hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp và quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân”.

Quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của Tòa án

Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, ngoài các chủ thể tham gia vào các quan hệ ngoại giao chủ yếu như cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự thì các chủ thể khác như Nhà nước, cơ quan nhà nước, các công ty, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty đa quốc gia, v.v. sẽ tham gia ngày càng nhiều vào các giao dịch kinh tế, dân sự, thương mại ở nước ngoài. Do đó, tất yếu sẽ phát sinh những tranh chấp dân sự, kinh tế, thương mại có yếu tố nước ngoài cần phải được giải quyết bởi cơ quan tài phán có thẩm quyền. Về nguyên tắc, phán quyết đó phải được tôn trọng và bảo đảm thi hành, trừ trường hợp được miễn trừ nghĩa vụ thi hành theo quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Thực tế ở Việt Nam trong thời gian qua cũng đã xuất hiện nhiều vụ án kinh tế, thương mại liên quan đến các chủ thể này trong lĩnh vực tư pháp quốc tế,…Việc thi hành phán quyết của Tòa án trong những trường hợp này luôn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là từ thể chế. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp một cái nhìn tổng thể quy định của pháp luật Việt Nam cũng như các quy định của pháp luật quốc tế có liên quan đến quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của Tòa án.

Hoàn thiện quy định về kiêm sát thi hành án hành chính

Kiểm sát thi hành án hành chính (THAHC) có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình giải quyết vụ án hành chính nói chung và đối với hoạt động THAHC nói riêng. Thông qua việc thực hiện hoạt động này, Kiểm sát viên sẽ kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong quá trình THAHC để đưa ra những yêu cầu, kiến nghị người có thẩm quyền xử lý hoặc khắc phục các hành vi vi phạm nhằm bảo đảm cho các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án được thi hành nghiêm minh1. Tuy nhiên hiện nay, còn thiếu các quy định pháp luật chuyên biệt điều chỉnh hoạt động kiểm sát thi hành án hành chính, làm ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức cũng như hiệu quả của công tác kiểm sát này.
 
1 Lê Việt Sơn (2014). "Một số vướng mắc trong các quy định cùa pháp luật về kiêm sát THAHC". Tạp chí Kiểm sát, số 01, tr. 26.