Sign In

Luật THADS năm 2025 (sửa đổi): Quy định mới về ứng dụng CNTT và phối hợp trong THADS

02/02/2026

Luật Thi hành án dân sự (THADS) số 106/2025/QH15 (có hiệu lực từ 01/7/2026), bên cạnh các qui định mới về mô hình tổ chức, trình tự, thủ tục thi hành án, Luật còn qui định về đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường và nâng cao hiệu quả phối hợp trong thi hành án dân sự. Trong đó, đã quy định tập trung vào việc ứng dụng công nghệ trong quy trình tổ chức thi hành án, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia; nâng cao trách nhiệm trong công tác phối hợp của chính quyền 2 cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan, tạo điều kiện thuận lợi, nhằm rút ngắn thời gian và giảm chi phí thi hành án dân sự. 

Thứ nhất, Về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số mạnh mẽ
Thể chế hóa Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Luật THADS năm 2025 (sửa đổi) đã bổ sung nhiều quy định ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động thi hành án dân sự (THADS), như: Điều 5 ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS, Điều 9 quy định điều kiện bảo đảm cho công tác THADS, Điều 35 về thông báo qua phương tiện điện tử, Điều 37 về ứng dụng công nghệ thông tin trong xác minh, Điều 54 về thanh toán qua chuyển khoản...; trong đó, nổi bật là Luật đã dành riêng một điều riêng để quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong THADS, cụ thể:

- Một là, Bổ sung quy định cơ sở dữ liệu về thi hành án dân sự được kết nối, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và ngược lại. Cơ sở dữ liệu (CSDL) thi hành án dân sự đang được xây dựng tập trung, thống nhất, kết nối và chia sẻ dữ liệu với CSDL quốc gia về dân cư, lý lịch tư pháp, tài nguyên môi trường, ngân hàng, và CSDL tổng hợp quốc gia. Mục tiêu là đảm bảo dữ liệu "Đúng - Đủ - Sạch - Sống", nâng cao tính minh bạch, hỗ trợ ra quyết định bằng AI/Big Data và chuyển đổi từ quản lý giấy tờ sang số hóa. 

- Hai là, Bổ sung quy định các thủ tục về thi hành án dân sự theo quy định của Luật này được thực hiện trực tiếp hoặc trên môi trường số được công nhận theo quy định của pháp luật. Văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến thi hành án dân sự được lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, ký số, gửi, nhận, lưu trữ, xử lý, chia sẻ trên môi trường số bảo đảm theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin dưới dạng giấy, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Ba là, Quy định về thông báo thi hành án trên môi trường số; xác minh điều kiện thi hành án thông qua kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành; việc chuyển giao bản án, quyết định, gửi hồ sơ thi hành án theo yêu cầu có thể thực hiện trên môi trường số; bổ sung phương thức thanh toán tiền thi hành án qua chuyển khoản hoặc phương tiện thanh toán khác…

- Bốn là, Để tạo cơ sở pháp lý triển khai thực hiện các nhiệm vụ về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động THADS, Luật quy định một số điều khoản có hiệu lực sớm (ngày 20 tháng 01 năm 2026), bao gồm quy định liên quan đến chuyển đổi số, giá trị pháp lý của các thủ tục trên môi trường số, trách nhiệm kết nối, chia sẻ của các cơ quan trong THADS..., như: khoản 9 và khoản 11 Điều 3; Điều 5; điểm g khoản 2 Điều 11; điểm đ khoản 2 Điều 12; khoản 8 và khoản 9 Điều 20; khoản 7 và khoản 8 Điều 21 và khoản 8 Điều 27.

Thứ hai, Tăng cường sự phối hợp của chính quyền địa phương; các cơ quan, tổ chức trong hoạt động THADS theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp

Tăng cường sự chỉ đạo, phối hợp của chính quyền địa phương trong THADS

Một là, Quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh trong THADS
Thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của văn phòng thi hành án dân sự, Thừa hành viên tại địa phương theo quy định của Chính phủ; Chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn, giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp; Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương; Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết khiếu nại liên quan đến tổ chức, hoạt động của văn phòng THADS, Thừa hành viên theo quy định.

Hai là, Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong THADS
(1) Phối hợp với cơ quan THADS, Chấp hành viên, Văn phòng THADS, Thừa hành viên trong việc vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án, thông báo THA, xác minh điều kiện THA, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và các nhiệm vụ khác về THADS trên địa bàn; (2) Giải quyết kịp thời những kiến nghị, vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp xã; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình tổ chức THA; (3) Cung cấp thông tin, điều kiện THA theo đề nghị của cơ quan THADS, Chấp hành viên, Văn phòng THADS, Thừa hành viên; (4) Tham gia và phối hợp tổ chức cưỡng chế THA trên địa bàn theo đề nghị của cơ quan THADS, Chấp hành viên; (5) Tham gia Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản theo đề nghị của cơ quan THADS; tiếp nhận, xử lý vật chứng, tài sản sung quỹ nhà nước và bảo quản tài sản theo quy định.

Thứ ba, Hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong THADS
Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân trong THADS được quy định tại Điều 11 và Điều 13 của Luật, trong đó có bổ sung trong trường hợp đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì phải giải quyết theo thủ tục rút gọn đối với yêu cầu của cơ quan THADS, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình THA.

 Thứ tư, Hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong THADS
Xác định rõ thẩm quyền kiểm sát, kháng nghị, kiến nghị của VKSND các cấp đối với hoạt động tổ chức THA của cơ quan THADS, Chấp hành viên, văn phòng THADS, Thừa hành viên; Quy định rõ thời hạn kháng nghị đối với các vụ việc thi hành án đã kết thúc, cụ thể: Trường hợp việc thi hành án đã kết thúc thì thời hạn kháng nghị là 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát có thẩm quyền nhận được thông báo về kết thúc việc thi hành án. Sửa đổi quy định về trình tự, thủ tục trả lời kháng nghị của VKSND để phù hợp với mô hình tổ chức cơ quan THADS một cấp tại địa phương và các quy định liên quan đến xã hội hóa hoạt động THADS tại Luật.

Thứ năm, Hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan công an trong THADS
Luật THADS hiện hành mới có quy định về việc cơ quan công an sẽ phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan THADS có thể gặp phải sự chống đối, cản trở của người phải thi hành án ở tất cả các giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án, chứ không phải chỉ khi cưỡng chế. Từ việc thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, tổ chức thẩm định giá đến xem tài sản để thực hiện việc định giá tài sản, hay việc xem tài sản khi đưa tài sản ra bán đấu giá…đều gặp phải sự chống đối của người phải thi hành án. Do đó, Luật THADS (sửa đổi) đã thay đổi cách tiếp cận. Đó là, cơ quan công an sẽ không chỉ “bảo vệ cưỡng chế thi hành án”, mà còn “bảo vệ trật tự, an toàn xã hội trong toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án” trong trường hợp có sự chống đối, cản trở việc thi hành án.

Thứ sáu: Trách nhiệm của cơ quan khác có liên quan trong THADS
 Quy định chung tại Điều 14 về Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan thuế, cơ quan Công an, cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm thực hiện kịp thời các quyết định về thi hành án, văn bản, yêu cầu, đề nghị của cơ quan THA, Chấp hành viên trong việc xác minh điều kiện THA, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và các thủ tục thi hành án khác theo quy định của pháp luật./.
   Công Hoàng

Các tin đã đưa ngày: