Theo chương trình xây luật năm 2025 của Quốc hội, kỳ họp lần thứ 10 Khóa XV sẽ thông qua 53 dự án Luật, Nghị quyết (49 dự án Luật và 04 Nghị quyết), trong đó có Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi). Đây là dự thảo Luật được các cơ quan có liên quan ở Trung ương, địa phương, Hệ thống THADS và các tầng lớp nhân dân tham gia góp ý nhiều lần.
.jpg)
So với Luật Thi hành án dân sự (THADS) hiện hành, dự án Luật lần này được xây dựng với cơ cấu, bố cục, nội dung hợp lý, phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng; các qui định của Luật được thiết kế theo hướng qui định khung, qui định nguyên tắc, đã rút gọn rất nhiều nội dung, điều, khoản, từ 183 điều xuống còn 118 điều. Nhiều nội dung không qui định trong Luật mà giao cho Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hướng dẫn thi hành theo quy định. Qua nghiên cứu nội dung, nhất là trình tự, thủ tục thi hành án được qui định tại dự thảo, xin tham gia một số nội dung, cụ thể:
Thứ nhất, về quyền lựa chọn cơ quan thi hành án (Điều 6 và Điều 7)
Đối với thi hành án theo đơn yêu cầu, dự thảo quy định người được thi hành án và người phải thi hành án đều có quyền lựa chọn cơ quan Thi hành án dân sự hoặc Văn phòng Thi hành án dân sự để tổ chức thi hành. Tuy nhiên, còn nhiều nội dung qui định chưa rõ về quyền yêu cầu thi hành án trong một số trường hợp. Đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định về cơ chế lựa chọn việc thi hành án, tránh xảy ra trường hợp cùng một vụ việc hoặc nhiều vụ việc có nhiều người được thi hành án nhưng chỉ có một người phải thi hành án nhưng có lựa chọn khác nhau, nhằm tránh tình trạng “song trùng thẩm quyền” hoặc “tranh chấp thẩm quyền tổ chức thi hành”, cụ thể có 02 trường hợp: Thứ nhất, trường hợp cùng một bản án, quyết định chỉ có một người phải thi hành án nhưng có nhiều người được thi hành án, sau đó một số người được thi hành án yêu cầu Văn phòng Thi hành án thi hành, một số người yêu cầu cơ quan THADS thi hành. Thứ hai, trường hợp có nhiều bản án, quyết định, theo đó có nhiều nguyên đơn (người được thi hành án) khởi kiện 01 bị đơn (người phải thi hành án), sau đó có một số người được thi hành án của một số bản án yêu cầu Văn phòng Thi hành án thi hành, một số người được thi hành án của bản án khác yêu cầu cơ quan THADS thi hành.
Thứ hai, việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành (Điều 37)
Tại Khoản 4, Điều 37 dự thảo quy định: Hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh theo quy định khoản 3 Điều này mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự gửi lại tài liệu yêu cầu thi hành án. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành theo quy định tại Điều 33 của Luật này hoặc có quyền yêu cầu Văn phòng Thi hành án dân sự thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 30 của Luật này.
Về qui định này, đề nghị bổ sung cụm từ vào đầu khoản 4: “Đối với việc thi hành án theo yêu cầu, khi”…; đồng thời, đối với cụm từ “gửi trả lại tài liệu yêu cầu thi hành án”, đề nghị Ban soạn thảo sử dụng từ, ngữ phù hợp để thay thế cụm từ “gửi trả lại tài liệu…”, đồng thời nên qui định hình thức gửi trả lại cho phù hợp và tương ứng với việc ra quyết định thi hành án sau khi tiếp nhận đơn yêu cầu.
Thứ ba, xác định tài sản và xử lý tranh chấp tài sản của người phải thi hành án (Điều 38)
Tại điểm b, khoản 1 quy định: Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này hoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết thì cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc qui định cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự là không phù hợp với bản chất của việc dân sự (việc dân sự cốt ở 2 bên, do các bên tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm), cơ quan Thi hành án dân sự không thể tham gia phiên tòa với tư cách là nguyên đơn để cung cấp chứng cứ, đây là quyền và nghĩa vụ của đương sự, nhất là người được thi hành án và cơ quan Thi hành án không thể có chứng cứ để cung cấp. Do đó, đề nghị dự thảo Luật qui định: Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo mà các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này hoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án dân sự. Trường hợp có quy định cơ quan Thi hành án dân sự yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để thi hành án thì chỉ nên qui định trong trường hợp việc thi hành án cho ngân sách nhà nước, cho nhóm người yếu thế, cho cộng đồng hoặc vì lợi ích Quốc gia./. (Bài 1).
Văn phòng THADS tỉnh