Trình tự thủ tục thi hành án dân sự được qui định trong Luật THADS (sửa đổi) có nhiều quy định mới, trong đó có qui định mới về biện pháp cưỡng chế, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án; trách nhiệm bảo quản kho vật chứng và công tác phối hợp thi hành án dân sự, cụ thể:
Quy định về các biện pháp cưỡng chế thi hành án khác
Thứ nhất, Về biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
+ Bổ sung quy định về nguyên tắc: Trường hợp có tài sản của người khác gắn liền với quyền sử dụng đất được chuyển giao mà việc xử lý tài sản đó đã được xác định trong bản án, quyết định được thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản theo nội dung bản án, quyết định.
+ Quy định rõ phương án xử lý trong trường hợp có tài sản của người khác gắn liền với quyền sử dụng đất được chuyển giao mà việc xử lý tài sản đó chưa được xác định trong bản án, quyết định mà tài sản gắn liền với đất hình thành sau khi có bản án, quyết định sơ thẩm thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao cho người được thi hành án. Hết thời hạn ấn định mà họ không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế giao quyền sử dụng đất cùng với các tài sản đó cho người được thi hành án. Nếu người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản gắn liền với đất thì Chấp hành viên có quyền bán tài sản trên đất hoặc tiêu hủy nếu đủ điều kiện tiêu hủy. Khi giao quyền sử dụng đất cho người được thi hành án, Chấp hành viên cưỡng chế tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho để tài sản trên đất trong thời gian xử lý tài sản.
Thứ hai, Biện pháp cưỡng chế buộc thực hiện, không thực hiện công việc: Không quy định thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trước khi đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự với người phải thi hành án trong trường hợp này. Tuy nhiên, cơ quan THADS cần lưu ý: Thủ trưởng cơ quan THADS vẫn có quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Quy định mới, rõ ràng về các căn cứ và thời hạn chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế và giải tỏa kê biên tài sản
Thứ nhất, Quy định về quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đương nhiên hết hiệu lực khi có quyết định đình chỉ thi hành án.
Thứ hai, Quy định các căn cứ chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án (trừ biện pháp tạm hoãn xuất cảnh - thực hiện theo quy định của pháp luật về xuất nhập cảnh và hướng dẫn của Chính phủ), bao gồm: Người yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm đề nghị chấm dứt; Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và thanh toán các chi phí thi hành án theo quy định của Luật này; Tài sản, giấy tờ không thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người phải thi hành án; Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, Quy định về các căn cứ chấm dứt áp dụng biện pháp cưỡng chế (trừ quyết định kê biên), bao gồm: Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và thanh toán các chi phí thi hành án theo quy định của Luật này; Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản không hiệu quả, làm cản trở đến việc thi hành án hoặc người phải thi hành án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản.
Thứ tư, Quy định về các căn cứ giải tỏa kê biên tài sản:
Đương sự thỏa thuận về việc giải tỏa kê biên tài sản, trừ trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án; Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, nộp phí và thanh toán các chi phí thi hành án; Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Thứ năm, Các biện pháp cưỡng chế khác cơ bản giữ như quy định hiện hành nhưng có rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định cho phù hợp, đồng bộ.
Luật quy định giảm thời gian về trả lại tiền, tài sản cho đương sự
Giảm thời hạn thông báo để đương sự đến nhận tiền từ 15 ngày xuống 10 ngày, nhận tài sản từ 03 tháng (90 ngày) xuống 30 ngày, từ đó, giảm được tối đa 60 ngày đối với khoản trả lại tiền, tài sản cho đương sự
Luật THADS đã rà soát, bổ sung nhiều căn cứ để ra các quyết định về thi hành án
Luật đã bổ sung nhiều căn cứ ra các quyết định về thi hành án như: Quyết định xác định việc thi hành án chưa có điều kiện, hoãn thi hành án, tạm đình chỉ thi hành án và đình chỉ thi hành án, ủy thác thi hành án, ủy thác xử lý tài sản nhằm tháo gỡ nhiều vướng mắc, bất cập từ thực tiễn và đồng bộ, thống nhất với các Luật có liên quan.
Quy định mới về quản lý kho vật chứng
Theo quy định của Luật THADS và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành thì cơ quan THADS thực hiện nhiệm vụ quản lý kho vật chứng trong giai đoạn xét xử, thi hành án. Mặc dù quy định này có những ưu điểm nhất định nhưng việc tồn tại song song kho vật chứng của Công an nhân dân và cơ quan THADS sẽ dẫn đến bị phân tán địa điểm, gây khó khăn trong việc tiếp nhận, bảo quản, xử lý vật chứng; thiếu đồng bộ. Quy định như hiện nay cũng sẽ dễ dẫn đến hư hỏng, thất lạc và phát sinh chi phí lớn để bảo quản, vận chuyển, thuê nhân lực cho ngân sách nhà nước; công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa thật hiệu quả; công tác bảo vệ của cơ quan THADS gặp nhiều khó khăn đối với một số vật chứng là tài sản đặc thù như: ma túy, chất dễ cháy nổ… Do đó, Luật đã sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 1 Điều 90 của Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng: “Vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, vật chứng tiếp tục được bảo quản, lưu giữ tại nơi đang bảo quản; cơ quan thi hành án dân sự thực hiện các thủ tục kiểm kê, tiếp nhận, niêm phong vật chứng trong giai đoạn thi hành án và xử lý theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Trường hợp vật chứng đang được bảo quản tại kho thuê thì cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm thanh toán chi phí thuê kho kể từ thời điểm tiếp nhận đến khi tiêu hủy, trả lại tài sản hoặc giao cho cơ quan tài chính cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã để sung quỹ nhà nước hoặc xử lý xong theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.”. Với việc sửa đổi, bổ sung quy định này, việc quản lý, bảo quản vật chứng sẽ được thống nhất về một đầu mối, đảm bảo an toàn và tiết kiệm cho ngân sách nhà nước.
Đồng thời, Luật cũng quy định về điều khoản chuyển tiếp đối với thay đổi liên quan đến trách nhiệm bảo quản vật chứng, cụ thể như sau: Vật chứng đã được cơ quan thi hành án dân sự tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với vật chứng đã được cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố tiếp nhận và đang bảo quản tại các kho vật chứng không thuộc khuôn viên trụ sở cơ quan thi hành án dân sự thì Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính phối hợp thực hiện việc chuyển giao các kho vật chứng cùng vật chứng đang bảo quản tại kho về Bộ Công an để quản lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2028.
Luật qui định mới về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS:
Nhằm phù hợp với mô hình hệ thống THADS sau sắp xếp và xã hội hóa hoạt động THADS, Luật đã sửa đổi quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo như sau:
Thứ nhất, về khiếu nại: Thủ trưởng cơ quan THADS giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình và của Phó Thủ trưởng, Chấp hành viên thuộc quyền quản lý; Trưởng Văn phòng THADS giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình và của Thừa hành viên thuộc Văn phòng; Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS giải quyết lần hai đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan THADS và quyết định giải quyết khiếu nại của Trưởng Văn phòng THADS. Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan quản lý THADS.
Thứ hai, về tố cáo:
+ Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan nào thì người đứng đầu cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.
+ Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết. Trường hợp người bị tố cáo là Trưởng văn phòng thi hành án dân sự hoặc Thừa hành viên thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết. Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có trách nhiệm giải quyết.
Văn phòng THADS tỉnh