Giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự

21/09/2007
Thực trạng trong những năm gần đây, khiếu nại về thi hành án dân sự là vấn đề bức xúc của nhiều người dân nhưng là vấn đề còn nhiều khó khăn, bất cập và “trăn trở” của ngành Tư pháp. Để góp một phần nhỏ trong việc giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự thì trong bài viết này, tác giả chỉ tập trung vào vấn đề giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự, về giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự sẽ được đề cập tại bài viết sau bài này.


Nhưng trong thực tế, khiếu nại và tố cáo có quan hệ chặt chẽ với nhau nên đôi lúc người giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự còn lúng túng trong việc phân định ranh giới, thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết. Do đó, tác giả sẽ phân tích nội dung liên quan giữa khiếu nại và tố cáo. Hơn nữa, qua theo dõi, tổng hợp về đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực THADS thì nội dung khiếu nại, tố cáo được thể hiện trong các đơn thư rất phức tạp, đa dạng: có đơn khiếu nại về nghiệp vụ thi hành án, có đơn tố cáo cán bộ thi hành án hoặc người giải quyết khiếu nại, có đơn vừa khiếu nại, vừa tố cáo, có đơn đề nghị phải cưỡng chế thi hành án dứt điểm, có đơn nội dung là khiếu nại nhưng lại có tiêu đề là đơn tố cáo, có đơn có tiêu đề là khiếu nại nhưng nội dung là tố cáo...Do đó, người giải quyết khiếu nại, tố cáo phải phân loại chính xác các loại đơn thư để xác định thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết cho phù hợp với quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về thi hành án dân sự.

Để giúp người giải quyết khiếu nại, tố cáo phân loại các loại đơn, tác giả đã có bài viết: “Phân biệt khiếu nại và tố cáo, một số vấn đề cần chú ý khi giải quyết khiếu nại, tố cáo” đăng trên trang Web của Bộ Tư pháp ngày 14/9/2007. Vấn đề cốt lõi là phải căn cứ vào nội dung: khiếu nại là những quyết định hành chính, hành vi hành chính không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, còn nội dung tố cáo là người bị tố cáo đã thực hiện những hành vi mà bị pháp luật cấm không được làm. Xét về cấp độ sai phạm thì nội dung tố cáo ở cấp độ cao hơn, mức độ vi phạm pháp luật nghiêm trọng hơn so với nội dung khiếu nại. Từ đó, chúng ta áp dụng theo 02 trường hợp sau:

- Trường hợp đơn vừa có nội dung khiếu nại vừa có nội dung tố cáo thì ta áp dung khoản 3, Điều 6 của Nghị định 136/2006/NĐ-CP: “Đối với đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo thì cơ quan nhận được có trách nhiệm xử lý nội dung khiếu nại theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều này, còn nội dung tố cáo thì xử lý theo quy định tại Điều 38 Nghị định này.”.  Theo đó, nếu đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo thì ta phải tách nội dung khiếu nại ra để giải  quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại và nội dung tố cáo phải giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo.

- Trường hợp tiêu đề của đơn lại không thống nhất với nội dung của đơn:  Nếu tiêu đề của đơn là “Đơn tố cáo” nhưng thực chất nội dung là khiếu nại thì ta giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại và nếu tiêu đề của đơn là “Đơn khiếu nại” nhưng nội dung thực chất là tố cáo thì giải quyết theo trình tự, thủ tục của giải quyết tố cáo.

Qua theo dõi, thống kê trên toàn quốc, khiếu nại về thi hành án dân sự thường tập trung vào các nội dung sau:

- Chậm ra quyết định thi hành án;

- Chậm tổ chức thi hành án;

- Không tổ chức thi hành án dứt điểm mặc dù người phải thi hành án có điều kiện thi hành.

(Ba nội dung trên có nguyên nhân chủ quan và khách quan nhưng nguyên nhân chủ quan là chính và thường có dấu hiệu tiêu cực).

- Kê biên tài sản sai đối tượng;

- Kê biên tài sản đã được thế chấp hợp pháp (nguyên nhân chính là do Chấp hành viên không nghiên cứu kỹ hồ sơ, hiểu sai đối tượng...);

- Kê biên tài sản không tương ứng với giá trị phải thi hành án;

- Không ra quyết định hoãn thi hành án khi đã có yêu cầu hoãn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

- Khiếu nại về: Thời hiệu thi hành án; Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ thi hành án; Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án; Quyết định uỷ thác thi hành án;

- Việc tống đạt các loại giấy tờ thi hành án; tính lãi suất tiền phải thi hành án; Xin hoãn thi hành án, xin thi hành án từng phần;

- Về quyết định cưỡng chế thi hành án; Chi phí cưỡng chế thi hành án; về việc giao, bảo quản tài sản kê biên;

- Về việc thanh toán tiền, tài sản thi hành án không đúng thứ tự, chia tỷ lệ không đúng;

-  Về quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;

-  Về quyết định cưỡng chế giao đồ vật; cưỡng chế trả nhà...

- Đơn có tiêu đề tố cáo nhưng nội dung là khiếu nại về thi hành án: về việc cơ quan, cán bộ thi hành án ra quyết định thi hành trái pháp luật gây thiệt hại cho công dân, cơ quan Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội (chậm, sai với quyết định bản án, bản án đã hết thời hiệu thi hành...); các hành vi vi phạm quy định pháp luật trong quá trình thi hành án (cưỡng chế, tạm đình chỉ, trả lại đơn yêu cầu thi hành án...); người giải quyết khiếu nại chậm ra Quyết định giải quyết khiếu nại hoặc người khiếu nại cho rằng người giải quyết khiếu nại đã bao che, vi phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo, pháp luật về THADS...

- Đòi bồi thường thiệt hại do thi hành án trái pháp luật gây ra...

- Đơn thư khiếu nại nổi cộm, bức xúc và còn tồn đọng chủ yếu là những trường hợp đã được các ban, ngành họp thống nhất cho ý kiến nhưng chưa giải quyết hoặc giải quyết chưa thấu tình, đạt lý; Hoặc các vụ việc đã có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng, nhưng đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại.

Quy trình giải quyết khiếu nại  trong THADS:

Để giải quyết khiếu nại trong THADS, người giải quyết khiếu nại phải thực hiện rất nhiều công việc, từ thụ lý đơn, nghiên cứu đơn, lập kế hoạch giải quyết cho đến xác minh, thu thập chứng cứ, làm rõ các nội dung khiếu nại, kiến nghị cấp có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại, hoàn chỉnh hồ sơ, tài liệu... Tuy nhiên, có thể tóm lược việc giải quyết khiếu nại được chia làm 3 bước chính là : chuẩn bị giải quyết khiếu nại; xác minh, thu thập chứng cứ  và ra kết luận về nội dung khiếu nại, hoàn chỉnh hồ sơ.

Bước 1: Chuẩn bị giải quyết khiếu nại

Khi nhận được khiếu nại, người giải quyết khiếu nại căn cứ vào Pháp lệnh THADS năm 2004 và các quy định của pháp luật về khiếu nại để xác định xem vụ việc có đủ điều kiện thụ lý hay không. Người giải quyết khiếu nại sẽ không thụ lý đối với các khiếu nại sau:

+ Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại;

+ Khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết;

+ Người khiếu nại không có năng lực hành vi đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

+ Người đại diện không hợp pháp;

+ Thời hiệu khiếu nại, thời hiệu khiếu nại tiếp đã hết;

+ Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng;

+ Việc khiếu nại đã được Tòa án thụ lý để giải quyết hoặc đã có bản án, quyết định của tòa án.

Đối với những trường hợp khác không nằm trong các trường hợp nêu trên, người giải quyết khiếu nại phải có trách nhiệm thụ lý đơn khiếu nại.

Trên cơ sở đơn và các tài liệu mà người khiếu nại cung cấp, người giải quyết khiếu nại phải tiến hành nghiên cứu kỹ đơn khiếu nại, hồ sơ, tài liệu liên quan để xác định nội dung khiếu nại của người khiếu nại bao gồm những vấn đề gì, yêu cầu của người khiếu nại là như thế nào, những căn cứ mà người khiếu nại đưa ra để chứng minh cho yêu cầu của họ có đúng pháp luật không, đã đầy đủ chưa...Đồng thời, có thể tiến hành việc tiếp xúc sơ bộ đối với người khiếu nại. Thông thường, người khiếu nại thường cho mình là người bị oan ức, quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm do vậy trong đơn của họ thường không phản ánh trung thực bản chất của vấn đề hoặc giấu giếm các chứng cứ để làm sai lệch thông tin, làm lạc hướng sự nhận định của người giải quyết khiếu nại. Do vậy, người giải quyết khiếu nại trong những trường hợp nhất định, để làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của vụ việc mà mình chưa rõ, cần thiết phải tiếp xúc với đương sự nhằm khẳng định những nội dung khiếu nại và yêu cầu của họ, qua đó xác định lại nhân thân người khiếu nại có hợp lệ không, cũng có thể khai thác thêm phần nào những thông tin liên quan đến vụ việc bị khiếu nại.

Người giải quyết khiếu nại cần phải thu thập các văn bản pháp lý liên quan đến giải quyết vụ việc để làm căn cứ giải quyết khiếu nại. Đó có thể là các văn bản, tài liệu liên quan đến quyết định, hành vi bị khiếu nại hay những văn bản, tài liệu mà nội dung đơn thư khiếu nại đã đề cập đến như là những căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại hoặc những văn bản pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực có liên quan đến vụ việc phát sinh...

Bước tiếp theo là lập kế hoạch giải quyết vụ việc. Kế hoạch giải quyết phải bao gồm một số nội dung công việc sau:

+ Mục đích, yêu cầu của việc giải quyết; những nội dung cần nghiên cứu, bổ sung;

+ Những nội dung khiếu nại cần phải thẩm tra, xác minh;

+ Những yêu cầu mà đối tượng bị khiếu nại phải giải trình;

+ Địa điểm, các đối tượng cần xác minh;

+ Dự kiến các tình huống phát sinh trong quá trình giải quyết;

+ Dự kiến lịch làm việc, tiến độ thời gian;

+ Các điều kiện bảo đảm cho việc giải quyết khiếu nại (nhân lực, phương tiện, kinh phí….).

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều cần phải lập kế hoạch giải quyết mà tuỳ tính chất, mức độ phức tạp của từng vụ việc khiếu nại cụ thể, người giải quyết khiếu nại sẽ có hai hướng giải quyết khác nhau: nếu vụ việc đơn giản, chứng cứ, tài liệu đã rõ ràng (nội dung vụ việc đã được thể hiện đầy đủ qua các tài liệu mà người giải quyết khiếu nại có), có thể đưa ra ngay kết luận thì không cần phải lập kế hoạch giải quyết, không cần tiến hành xác minh, thu thập thêm chứng cứ. Những vụ việc có tính chất phức tạp, tài liệu, chứng cứ hiện có không đủ để kết luận chính xác và có căn cứ pháp lý về nội dung khiếu nại thì mới cần phải lập kế hoạch giải quyết và tiến hành bước xác minh tiếp. Việc xác minh tuỳ trường hợp sẽ có thể phải tổ chức thành lập Đoàn xác minh hoặc có thể chỉ cần giao cho một số cán bộ thực hiện. 

Bước 2:  Tiến hành thẩm tra, xác minh

Thẩm tra, xác minh là nhằm mục đích thu thập chứng cứ, tài liệu làm cơ sở cho người giải quyết khiếu nại nhận xét chính xác, khách quan, đúng pháp luật về vụ việc, từ đó mới đề xuất đến cấp có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại được chính xác, đủ căn cứ, bảo vệ được lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

Đây là khâu rất quan trọng trong quá trình xem xét, giải quyết vụ việc khiếu nại. Khiếu nại có được giải quyết kịp thời, đúng chính sách pháp luật hay không  phụ thuộc rất nhiều vào việc xác minh, thu thập chứng cứ.

Khi tiến hành xác minh, cần phải khách quan, trung thực, chú ý tìm hiểu bản chất của sự việc dẫn đến khiếu nại. Điều quan trọng là xác minh rõ nguồn gốc của chứng cứ, mức độ trung thực và chính xác của chứng cứ. Tuy nhiên, trong quá trình xác minh, cũng cần phải xem xét đến cả tính hợp pháp, tính hợp lý của vấn đề mà các bên nêu ra. Chú ý phát hiện các mâu thuẫn, phải  lập  biên bản  từng vụ việc, từng nội dung xác minh..

Để tiến hành xác minh đạt kết quả tốt, cần phải vận dụng khéo léo, linh hoạt các biện pháp nghiệp vụ nhằm thu thập thông tin, chứng cứ. Cán bộ xác minh có thể mời gọi hoặc chủ động tìm đến ghi lời khai người liên quan và người liên quan thu thập thông tin từ các nguồn sau:

+ Người khiếu nại: việc gặp gỡ, tiếp xúc với người khiếu nại là công việc mang tính bắt buộc đối với người giải quyết khiếu nại lần đầu. Luật khiếu nại, tố cáo hiện hành quy định: “Người giải quyết khiếu nại lần đầu phải gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại”. Đối với người giải quyết khiếu nại tiếp theo thì luật quy định: “người giải quyết khiếu nại lần tiếp theo phải gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại trong trường hợp cần thiết”.

+ Người bị khiếu nại: người giải quyết khiếu nại có quyền triệu tập người bị khiếu nại đến để giải trình rõ sự việc, lời giải trình phải được thể hiện bằng văn bản chính thức do người có thẩm quyền ký.

+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan: đây là những người biết được những thông tin liên quan đến vụ việc hoặc có mối quan hệ nào đó với nội dung của vụ việc mà người giải quyết khiếu nại cần thiết phải gặp gỡ, tiếp xúc nhằm làm rõ những thông tin nhất định, từ đó mới có đủ cơ sở để kết luận một cách khách quan, toàn diện về vấn đề.

 + Sau khi gặp gỡ để lấy lời khai các đối tượng trên (sau đây gọi tắt là người liên quan), cán bộ xác minh phải thu thập chứng cứ, kiểm tra, đối chiếu,  phân loại, đánh giá chứng cứ bằng ba biện pháp kiểm tra sau:

Đối chiếu lời khai trước với lời khai sau, lời khai của người liên quan này với lời khai của người liên quan khác;

Đối chiếu lời khai của người liên quan với các tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ xác minh và với tình hình thực tế của vụ việc đã xẩy ra mà ta đã biết qua các nguồn khác (vật chứng, giám định chuyên môn....);

Dùng các biện pháp nhận dạng, giám định, thực nghiệm, đối chất... để xác minh lời khai của người liên quan khi cần thiết và có đủ điều kiện. Ngoài ra ta có thể áp dụng phương pháp kiểm tra lời khai tại chỗ; phương pháp khẳng định sự có mặt của người liên quan trong thời gian xẩy ra sự kiện; xác minh về nhân thân người liên quan, dùng điện thoại, áp dụng công nghệ tin học (thông tin qua mạng)... để kiểm tra lời khai của người liên quan.

Các biện pháp trên đây bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà kiểm tra bằng biện pháp này hay biện pháp khác. Không phải lúc nào cũng sử dụng tất cả các biện pháp để kiểm tra. Cán bộ xác minh phải lấy sự kiện thực tế làm cơ sở để xác định đúng, sai, tránh vội tin ngay vào lời khai của người liên quan hay kiểm tra một cách qua loa, đại khái.

Chỉ được sử dụng lời khai người liên quan sau khi đã được kiểm tra kết luận là chính xác. Khi sử dụng lời khai của người liên quan Cán bộ xác minh cần trao đổi, bàn bạc và tính toán đến việc bảo vệ người liên quan đó, đề phòng bị trả thù, trù dập... 

Khi lấy lời khai người liên quan phải lập biên bản theo những yêu cầu sau:

Biên bản phải chính xác, cụ thể trung thực.

Người lập biên bản không được trình bày vấn đề, nhận xét, đánh giá, kết luận theo chủ quan của mình trong quá trình xác minh.

Biên bản phải được phản ánh có trọng tâm, trọng điểm.

Biên bản phải đảm bảo đầy đủ các thủ tục pháp lý.

Khi lập biên bản lấy lời khai người liên quan cần tránh lối ghi cẩu thả, ghi miên man, dài dòng, chữ viết phải rõ ràng, dễ đọc, không tẩy xoá, phải dùng từ phổ thông, dễ hiểu, trong sáng, rõ nghĩa. Nếu có từ ngữ nước ngoài phải ghi theo phiên âm tiếng Việt và giải thích rõ nghĩa.

Tại khoản 5, điều 60 của Pháp lệnh THADS năm 2004 đã quy định: “...Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án tạm ngừng thi hành án trong thời gian giải quyết khiếu nại, nếu xét thấy việc thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự hoặc ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại.". Theo đó, trong quá trình giải quyết khiếu nại nếu xét thấy việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại sẽ gây hậu quả khó khắc phục thì người giải quyết khiếu nại phải ra quyết định hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó. Quyết định tạm đình chỉ phải được gửi cho người khiếu nại hoặc người có quyền, lợi ích liên quan. Quyết định tạm đình chỉ sẽ bị huỷ khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn. 

Sau khi đã xác minh, thẩm tra hết các nội dung, đối tượng liên quan, người giải quyết khiếu nại cần so sánh, đối chiếu với các văn bản pháp luật hiện hành, các quy định của cơ quan, đơn vị người bị khiếu nại; phải căn cứ vào sự kiện pháp lý xảy ra trong thời điểm nào để áp dụng văn bản có hiệu lực tại thời điểm đó cho phù hợp; So sánh, đối chiếu giữa các chứng cứ thu thập được, phân tích số liệu có trên hồ sơ, lượng hoá vấn đề khiếu nại có liên quan đến tài chính (nếu có thể tính toán được bằng các phương pháp phân tích tài chính), củng cố và đánh giá chứng cứ làm cơ sở cho việc nhận định rõ việc khiếu nại đúng hay sai, từ đó kết luận từng vấn đề và đưa ra phương hướng giải quyết cụ thể.

Kết thúc bước thẩm tra, xác minh, Đoàn xác minh hoặc cán bộ thụ lý sẽ phải soạn thảo văn bản "Báo cáo kết quả xác minh". Báo cáo này phải tổng hợp toàn bộ phần công việc đã thực hiện để đưa ra kết luận, kiến nghị, làm cơ sở cho người có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại. Báo cáo kết quả xác minh bao gồm những nội dung chủ yếu sau :

+ Kết luận cụ thể về từng nội dung đã tiến hành xác minh;

+ Xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm (nếu có);

+ Ý kiến khác nhau giữa thành viên Đoàn xác minh với Trưởng Đoàn xác minh về nội dung Báo cáo kết quả xác minh (nếu có);

+ Các biện pháp xử lý theo thẩm quyền đã được áp dụng; kiến nghị các biện pháp xử lý.

Tại khoản 3,4,5, điều 9 của Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày14/11/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo đã quy định:

 “3. Khi gặp gỡ, đối thoại, người giải quyết khiếu nại phải nêu rõ nội dung cần đối thoại, kết quả việc xác minh nội dung vụ việc khiếu nại; người tham gia đối thoại có quyền phát biểu ý kiến, đưa ra những bằng chứng liên quan đến vụ việc khiếu nại và yêu cầu của mình.

4. Việc gặp gỡ, đối thoại phải được lập thành biên bản; biên bản phải ghi rõ ý kiến của những người tham gia, tóm tắt kết quả về các nội dung đã đối thoại, có chữ ký của người tham gia; trường hợp người tham gia đối thoại không ký xác nhận thì phải ghi rõ lý do; biên bản này được lưu vào hồ sơ vụ việc khiếu nại.

5. Kết quả việc gặp gỡ, đối thoại là một trong các căn cứ làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu nại.”.

Do đó, trước khi ra quyết định giải quyết khiếu nại phải công bố công khai kết quả xác minh và hướng giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại, người bị khiếu nại và ghi nhận ý kiến giải trình của các bên bằng văn bản để xem xét, điều chỉnh trước khi ra quyết định giải quyết khiếu nại, hạn chế thấp nhất việc phát sinh khiếu nại sau khi có Quyết định giải quyết khiếu nại.

Báo cáo kết quả xác minh được gửi cho người ra quyết định xác minh. 

Bước 3: Ra kết luận xác minh về việc giải quyết khiếu nại và hoàn chỉnh hồ sơ

Người đã ra quyết định xác minh phải căn cứ vào Báo cáo kết quả xác minh, hồ sơ xác minh, phân tích, tổng hợp, đánh giá từng vấn đề khiếu nại một cách khách quan, toàn diện, lịch sử , cụ thể và chính xác. Nếu vấn đề nào còn chưa rõ hoặc còn mâu thuẫn thì cần đối thoại với Đoàn xác minh hoặc yêu cầu Đoàn xác minh báo cáo giải trình, tiến hành xác minh lại... nếu cần thiết phải trực tiếp thẩm tra lại vấn đề đó. Trong trường hợp giải quyết khiếu nại phức tạp, có liên quan đế nhiều cấp, nhiều ngành thì người ra Kết luận xác minh phải tham khảo ý kiến của các cấp, các ngành có liên quan (nội dung tham khảo phải thể hiện bằng văn bản) để ban hành văn bản "Kết luận xác minh".

Kết luận xác minh phải có các nội dung chính sau:

+ Đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của đối tượng xác minh;

+ Kết luận về nội dung được xác minh;

+ Xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm (nếu có);

+ Các biện pháp xử lý theo thẩm quyền đã được áp dụng; kiến nghị các biện pháp xử lý.

Trong quá trình ra văn bản kết luận xác minh, người ra quyết định xác minh có quyền yêu cầu Trưởng Đoàn xác minh, thành viên Đoàn xác minh  báo cáo, yêu cầu đối tượng xác minh giải trình để làm rõ thêm những vấn đề cần thiết phục vụ cho việc ra kết luận xác minh.

Kết luận xác minh việc giải quyết khiếu nại được gửi cho Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp (người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại) và đối tượng xác minh.

Trên cơ sở Kết luận xác minh, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại sẽ ra Quyết định giải quyết khiếu nại (quyết định này được gửi cho người khiếu nại; người có quyền và lợi ích liên quan, người giải quyết khiếu nại trước đó (nếu là giải quyết khiếu nại tiếp theo). Khi cần thiết, có thể công bố công khai quyết định giải quyết khiếu nại đối với người khiếu nại, người bị khiếu nại, cá nhân, tổ chức có liên quan).

* Về vấn đề hoàn chỉnh hồ sơ xác minh giải quyết khiếu nại: sau khi có Quyết định giải quyết khiếu nại người giải quyết khiếu nại phải hoàn chỉnh hồ sơ. Hồ sơ được lập và lưu trữ, được đánh số bút lục sắp xếp theo trình tự thời gian, tài liệu có trước phải đánh số trước, phải lập danh mục hồ sơ có phê duyệt của người ra quyết định xác minh nhằm giúp cho việc quản lý, theo dõi công tác giải quyết khiếu nại, đồng thời còn làm tài liệu cho các cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết khiếu nại ở cấp tiếp theo.

Pháp luật quy định hồ sơ giải quyết khiếu nại phải gồm những loại tài liệu sau:

+ Đơn khiếu nại hoặc bản ghi lời khiếu nại;

+ Văn bản trả lời của người bị khiếu nại;

+ Biên bản thẩm tra, xác minh, kết luận, kết quả giám định;

+ Báo cáo kết quả xác minh;

+ Kết luận xác minh;

+ Quyết định giải quyết khiếu nại;

+ Các tài liệu khác có liên quan.

Nếu người khiếu nại tiếp tục khiếu nại thì hồ sơ đó phải được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết tiếp theo (khi có yêu cầu). 

Trên đây là quy trình giải quyết khiếu nại thi hành án dân sự. Tuy nhiên để có kiến thức toàn diện về vấn đề này, chúng ta cần nghiên cứu nhiều tài liệu khác, các giải pháp tháo gỡ trong thực tiễn và khắc phục những vấn đề bất cập trong hệ thống pháp luật giữa thi hành án dân sự và pháp luật về khiếu nại, tố cáo (chúng tôi sẽ đề cập ở các bài viết tiếp theo). Để thực hiện tốt chức năng hướng dẫn nghiệp vụ cho Thanh tra Sở và công tác giải quyết khiếu nại trong ngành Tư pháp nói chung và giúp Bộ trưởng  giải quyết khiếu nại, chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại trong thi hành án dân sự nói riêng, chúng tôi rất mong tiếp nhận được sự đóng góp ý kiến xây dựng, chia xẻ thông tin, kiến thức hoặc hỏi đáp, thắc mắc về nghiệp vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo địa chỉ của tác giả: Hoàng Quốc Hùng – Thanh tra Bộ Tư pháp, Tel: 8231127 & 0913001513 & Email: Hunghq@moj.gov.vn.