Sign In

Một số vấn đề chung về thống kê thi hành án dân sự

12/08/2016

Một số vấn đề chung về thống kê thi hành án dân sự
     Thống kê thi hành án dân sự là một hoạt động quan trọng trong công tác thi hành án dân sự. Việc hiểu đúng những vấn đề chung về thống kê thi hành án dân sự góp phần thực hiện tốt công tác thống kê thi hành án dân sự.
     1. Những khái niệm cơ bản trong thống kê thi hành án dân sự

     Thống kê là một hệ thống các phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu và tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và ra quyết định. Thống kê là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, có vai trò cung cấp các thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân.

     Thống kê thi hành án dân sự là một loại thống kê thực hiện điều tra, báo cáo, tổng hợp, phân tích và công bố các thông tin phản ánh tính chất, quy luật vận động, phát triển của hoạt động thi hành án dân sự trong khoảng thời gian, không gian cụ thể, do cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên thực hiện (không kể việc thống kê thi hành án dân sự của Văn phòng Thừa phát lại, Thừa phát lại).

     Cũng như thống kê nói chung, thống kê thi hành án dân sự có những từ ngữ, khái niệm quan trọng cần được nhận thức đầy đủ và đúng đắn, như:

     Báo cáo thống kê là mẫu biểu và hướng dẫn ghi chép mẫu biểu để thu thập dữ liệu, thông tin thống kê về đối tượng nghiên cứu cụ thể theo phương pháp khoa học, thống nhất được quy định trong chế độ báo cáo thống kê trong một thời kỳ nhất định.

     Chế độ báo cáo thống kê là những quy định và hướng dẫn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành về việc thực hiện một tập hợp những báo cáo thống kê có liên quan với nhau để tổng hợp các chỉ tiêu thống kê thuộc một hệ thống chỉ tiêu thống kê và tổng hợp thông tin thống kê khác phục vụ quản lý nhà nước.

     - Chỉ tiêu thống kê phản ánh đặc điểm về quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, trình độ phổ biến, quan hệ tỷ lệ của bộ phận hoặc toàn bộ hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể. Chỉ tiêu thống kê gồm tên chỉ tiêu và trị số của chỉ tiêu.

     Chương trình thống kê là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt gồm hệ thống chỉ tiêu thống kê, chương trình điều tra thống kê, chế độ báo cáo thống kê và chương trình khác có liên quan đến hoạt động thống kê.

     Cơ sở dữ liệu thống kê là tập hợp những dữ liệu, thông tin thống kê có liên quan với nhau được sắp xếp, tổ chức theo một cấu trúc nhất định để quản lý, cập nhật và khai thác phục vụ cho mục đích thống kê và mục đích khác theo quy định của pháp luật. Cơ sở dữ liệu thống kê được hình thành chủ yếu từ dữ liệu, thông tin thống kê của điều tra thống kê, hồ sơ hành chính, báo cáo thống kê và cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, cơ sở dữ liệu của địa phương.

     - Dữ liệu thống kê gồm dữ liệu định lượng và dữ liệu định tính để hình thành thông tin thống kê về hiện tượng nghiên cứu.

     - Điều tra thống kê là hình thức thu thập dữ liệu, thông tin thống kê về đối tượng nghiên cứu cụ thể theo phương pháp khoa học, thống nhất được xác định trong phương án điều tra thống kê cho mỗi lần điều tra.

     - Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp những chỉ tiêu thống kê phản ánh các đặc điểm của hiện tượng kinh tế - xã hội.

     Hệ thống chỉ tiêu thống kê gồm danh mục và nội dung chỉ tiêu thống kê. Danh mục chỉ tiêu thống kê gồm mã số, nhóm, tên chỉ tiêu. Nội dung chỉ tiêu thống kê gồm khái niệm, phương pháp tính, phân tổ chủ yếu, kỳ công bố, nguồn số liệu của chỉ tiêu thống kê và cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, tổng hợp.

     Hệ thống chỉ tiêu thống kê thi hành án dân sự gồm chỉ tiêu thống kê quốc gia, chỉ tiêu thống kê ngành tư pháp, chỉ tiêu thống kê liên ngành trong thi hành án dân sự và chỉ tiêu thống kê trong ngành thi hành án dân sự. Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là tập hợp các chỉ tiêu thống kê chủ yếu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm thu thập thông tin thống kê hình thành hệ thống thông tin thống kê quốc gia. Chỉ tiêu thống kê quốc gia về thi hành án dân sự được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Luật Thống kê năm 2015 thuộc nhóm “19. Trật tự, an toàn xã hội và tư pháp”, số thứ tự 178, mã số 1908 là chỉ tiêu “kết quả thi hành án dân sự”.

     - Hoạt động thống kê là hoạt động xác định nhu cầu thông tin cần thu thập; chuẩn bị thu thập; thu thập; xử lý và tổng hợp; phân tích và dự báo; công bố, phổ biến và lưu trữ thông tin thống kê về hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể.

     - Phân loại thống kê là sự phân chia hiện tượng nghiên cứu thành các bộ phận và xếp các yếu tố của hiện tượng vào từng bộ phận riêng biệt, không trùng lặp, căn cứ vào một hoặc một số đặc điểm của yếu tố thuộc hiện tượng nghiên cứu. Phân loại thống kê gồm danh mục và nội dung phân loại thống kê. Danh mục phân loại thống kê gồm mã số và tên từng bộ phận. Nội dung phân loại thống kê gồm các yếu tố được xếp vào từng bộ phận.

     Số liệu thống kê chính thức là số liệu thống kê phản ánh đầy đủ, chính xác kết quả của hiện tượng kinh tế - xã hội đã diễn ra trong khoảng thời gian và không gian cụ thể đã được xử lý, tổng hợp, thẩm định và khẳng định.

     - Số liệu thống kê sơ bộ là số liệu thống kê phản ánh đầy đủ kết quả của hiện tượng kinh tế - xã hội đã diễn ra trong khoảng thời gian và không gian cụ thể nhưng chưa được khẳng định, còn phải được thẩm định, rà soát thêm.

     - Số liệu thống kê ước tính là số liệu thống kê dự tính trước toàn bộ kết quả của hiện tượng kinh tế - xã hội còn đang tiếp diễn, được tổng hợp từ số liệu của kỳ đã diễn ra, cập nhật theo thực tế và số liệu của kỳ sẽ diễn ra, sử dụng phương pháp chuyên môn để dự tính.

     Thông tin thống kê là dữ liệu thống kê được xử lý, tổng hợp và phân tích theo phương pháp, quy trình, chuyên môn, nghiệp vụ thống kê để phản ánh đặc trưng, thuộc tính của hiện tượng nghiên cứu. Thông tin thống kê gồm số liệu thống kê và bản phân tích số liệu đó.

     2. Phạm vi báo cáo thống kê thi hành án dân sự

     Phạm vi báo cáo thống kê thi hành án dân sự là toàn bộ các hoạt động của Chấp hành viên và Chi cục Thi hành án dân sự, Cục Thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án cấp quân khu (chưa tính đến Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát lại) trong việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự của Toà án, quyết định của Trọng tài Thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và các bản án, quyết định khác do pháp luật quy định.
 
     3. Vai trò của thống kê trong thi hành án dân sự

     Thống kê thi hành án dân sự phản ánh toàn bộ trạng thái khối lượng công việc phải thực hiện, đã thực hiện, còn phải thực hiện và sự vận động phát triển của thi hành án dân sự qua các thời kỳ khác nhau. Do đó, số liệu trong báo cáo thống kê thi hành án dân sự được sử dụng làm một trong những căn cứ khi quyết định một số vấn đề cơ bản sau:

     - Đánh giá kết quả thi hành án, tình hình tổ chức, hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký và các cán bộ, công chức khác trong các kỳ báo cáo, năm báo cáo.

     - Lập kế hoạch thi hành án và giao chỉ tiêu thực hiện nhiệm vụ tổ chức thi hành án hàng năm cho các cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên.

     - Phân bổ biên chế; đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, điều động Chấp hành viên, Thẩm tra viên, cán bộ, công chức của cơ quan thi hành án dân sự.

     - Tính chỉ tiêu thi đua, chỉ tiêu hoàn thành nhiệm vụ đối với cơ quan thi hành án dân sự.

     - Thực hiện chế độ tài chính trong thi hành án dân sự; xem xét quyết định việc đầu tư kinh phí xây dựng trụ sở, kho vật chứng, tài sản thi hành án; trang cấp phương tiện làm việc cho cơ quan thi hành án dân sự địa phương.

     - Báo cáo Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

     - Sử dụng vào các công việc khác nhằm mục đích quản lý, điều hành hoạt động thi hành án dân sự.

     4. Nguyên tắc cơ bản của hoạt động thống kê và sử dụng dữ liệu, thông tin thống kê thi hành án dân sự 

     - Hoạt động thống kê bao gồm hoạt động thống kê ngoài thống kê nhà nước là hoạt động thống kê do tổ chức, cá nhân thực hiện ngoài chương trình thống kê và hoạt động thống kê nhà nước là hoạt động thống kê trong chương trình thống kê do hệ thống tổ chức thống kê nhà nước, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện hoặc ủy thác cho tổ chức khác thực hiện. Hoạt động thống kê thi hành án dân sự do cơ quan thi hành án dân sự thực hiện là hoạt động thống kê nhà nước, do đó để nâng cao hiệu quả công tác thống kê, bảo đảm thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về công tác thống kê, hoạt động thống kê nói chung, thống kê thi hành án dân sự nói riêng phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

     + Trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời.

     + Độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê.

     + Thống nhất về nghiệp vụ, không trùng lặp, không chồng chéo.

     + Công khai, minh bạch.

     + Có tính so sánh.

     - Nguyên tắc cơ bản của sử dụng dữ liệu, thông tin thống kê thi hành án dân sự phải bảo đảm:

     + Trích dẫn nguồn dữ liệu, thông tin thống kê khi sử dụng.

     + Bình đẳng trong tiếp cận và sử dụng dữ liệu, thông tin thống kê nhà nước đã được công bố.

     + Bảo mật dữ liệu, thông tin thống kê theo quy định của pháp luật.

     6. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thống kê và sử dụng thông tin thống kê thi hành án dân sự gồm:

     - Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời, cản trở việc cung cấp thông tin theo phương án điều tra thống kê, chế độ báo cáo thống kê và từ dữ liệu hành chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.

     - Khai man, làm sai lệch dữ liệu thông tin thống kê.

     - Can thiệp, ép buộc, áp đặt, mua chuộc, đe dọa, dụ dỗ người khác khai man, làm sai lệch dữ liệu, thông tin thống kê và sử dụng thông tin thống kê.

     - Thực hiện sai các quy định trong phương án điều tra thống kê, chế độ báo cáo thống kê, sử dụng dữ liệu hành chính cho hoạt động thống kê; tự sửa đổi thông tin khi thực hiện điều tra, báo cáo thống kê và cung cấp thông tin từ dữ liệu hành chính.

     - Báo cáo, công bố, phổ biến thông tin thống kê không chính xác.

     - Tiết lộ thông tin thống kê thuộc danh mục bí mật nhà nước; tiết lộ dữ liệu, thông tin thống kê chưa được công bố; sử dụng dữ liệu, thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân ngoài mục đích thống kê khi chưa được sự đồng ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.

     - Quyết định điều tra thống kê, ban hành chế độ báo cáo thống kê trái quy định của pháp luật về thống kê.

     7. Cơ sở pháp lý của việc thực hiện thống kê thi hành án dân sự 

     - Các văn bản pháp luật chung về thống kê, đó là Luật Thống kê được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 23/11/2015, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016.

     - Các văn bản pháp luật chuyên ngành về thống kê thi hành án dân sự hiện nay gồm có: Thông tư 01/2013/TT-BTP ngày 03/01/2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn Chế độ báo cáo thống kê thi hành án dân sự , Thông tư 08/2015/TT-BTP ngày 26/6/2015 của Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01/2013/TT-BTP ngày 03/01/2013 hướng dẫn Chế độ báo cáo thống kê thi hành án dân sự và Thông tư liên tịch số 06/2016/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/5/2016 của Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn phối hợp trong thống kê thi hành án dân sự.
 
Theo thads.moj.gov.vn/

Các tin đã đưa ngày: